Fate/Zero – Quyển 4, chương 8

Matō Zōken–––

Lão già trước mặt y là đầu sỏ của nhà Matō, một kẻ nghe danh nhưng chưa từng thấy mặt. Các giác quan của Kotomine Kirei không thể không rung lên hồi chuông báo động.

Một bóng người nhỏ thó cố ý đứng trong góc tối trên con đường đêm, nơi ánh sáng không thể chiếu tới. Bất chấp vẻ ngoài già nua nhăn nhúm, con người này là một sinh vật vô cùng hung hiểm, Tokiomi đã nhắc đi nhắc lại với Kirei như thế. Mặc dù ngoài mặt tuyên bố rằng đã rửa tay gác kiếm, không màng thế sự bên ngoài nữa, lão là một kẻ dị thường đã bí mật sử dụng những ma thuật bí truyền để kéo dài tuổi thọ và cai quản nhà Matō qua nhiều thế hệ. Theo cách nào đó, lão còn nguy hiểm hơn Master thực sự của gia đình, Kariya. Đó là loại người cần đặc biệt lưu tâm.

“Kotomine Kirei. Ta nghe nói rằng ngươi là con trai của lão Risei thật thà ngu xuẩn đó. Có phải không?”

“Phải.”

Kirei gật đầu thừa nhận trước câu hỏi khô khốc.

“Hừm––– ngạc nhiên thật. Người ta thường nói anh hùng đến từ những nơi không ai ngờ nhất. Cũng có chút sự thật. Ta không nghĩ tên đó lại đẻ ra được đứa con vừa tinh ranh vừa xảo trá như ngươi.”

“Ông muốn gì, Matō Zōken?”

Kirei lờ đi câu nói khiêu khích của lão pháp sư và yêu cầu một câu trả lời.

“Ông đứng về phía Kariya, tại sao lại phải chui rúc ở đây nghe trộm?”

“Ngươi đang nói gì vậy? Ta chỉ là bậc phụ huynh lo lắng cho đứa trẻ nhà mình thôi. Ta chỉ muốn tận mắt xem người bảo trợ mà thằng cháu Kariya kiếm được là loại nào thôi mà.”

Lão ta cố tình giả vờ làm một người ông tận tâm, nhưng bộ mặt xương xẩu nhăn nhúm kia quá dị thường. Rõ ràng là khuôn mặt lão, với cái cấu trúc như vậy, sẽ không bao giờ nổi có một nụ cười.

“Ta đã nghe mọi điều ngươi nói để xoa dịu Kariya. Xem ra ngươi thật sự muốn xử thằng con nhà Tōsaka.”

“Đúng vậy. Kẻ đó đã giết cha ta––– “

“Im mồm. Đừng nhai đi nhai lại lời nói dối đó.”

Hai hốc mắt sâu hoắm vùi dưới những nếp nhăn chằng chịt loé lên một tia sắc bén, nhìn chằm chằm vào Kirei.

“Kotomine Kirei, ngươi đã đi quá xa rồi đấy. Ngươi thậm chí còn dám hành động sau lưng Tōsaka. Ngay từ đầu ngươi hoàn toàn không cần mượn tay Kariya giết Tokiomi. Hẳn ngươi đã chuẩn bị chu toàn mọi chuyện––– ta chưa già đến mức lú lẫn đâu. Ngươi có thể lừa Kariya, nhưng đừng nghĩ lừa được cả ta.”

“…”

Kirei ngầm đánh giá lão pháp sư này cao hơn một bậc, nhưng vẫn giữ vẻ mặt điềm tĩnh.

“Mục tiêu của ngươi không phải thằng con nhà Tōsaka, mà là chính Kariya, hả?”

“… Nếu ông nghi ngờ ta, tại sao không ngăn Kariya?”

Âm thanh the thé rợn người, tựa như tiếng lích kích câm lặng của một ổ côn trùng, vang lên. Mất một lát Kirei mới nhận ra đó là tiếng cười của lão.

“Hừm, ta nên nói thế nào nhỉ… Ngươi có thể coi đấy đơn giản chỉ là trí tò mò. Ta muốn xem ngươi sẽ dùng biện pháp gì để ‘phá huỷ’ Kariya. Ta rất hứng thú.”

“… Zōken, ông thật sự đứng nhìn cơ hội chiến thắng của Kariya, kẻ đang chiến đấu vì nhà Matō, bị huỷ đi từng chút một?”

“Cơ hội chiến thắng? Kariya? Hahaha, chúng chưa từng tồn tại. Nếu thứ rác rưởi đó giành được Chén Thánh, vậy ba trận mưa máu gió tanh trước kia hẳn chỉ là hài kịch.”

“Ta không hiểu. Chẳng phải Matō là một trong Ngự Tam Gia[1], những kẻ khao khát Chén Thánh sao?”

Nghe được câu hỏi của Kirei, Zōken hừ lạnh.

“Thằng trẻ ranh Tōsaka và đám Einsbern đều là lũ cực kỳ ngu xuẩn. Nếu chúng nhớ kỹ trận đấu cuối cùng trong cuộc chiến trước, chúng phải hiểu rằng Heaven’s Feel lần thứ tư sẽ xảy ra dị biến, và khôn người ra.

Ta đã nhìn thấu chiến trường lần này. Nói thật, ngay từ đầu, chỉ cần nhìn tên Caster bẩn thỉu kia là biết ngay nghi lễ triệu hồn đã không gọi lên một Anh Linh, mà là một ác linh khác xa các anh hùng một trời một vực. Hiển nhiên hệ thống Heaven’s Feel đã gặp lỗi ở đâu đó. Bọn ta cần sửa chữa nó trước tiên.”

Lão già này dường như đã hiện diện ở mọi Heaven’s Feel. Kẻ không còn là con người, Matō Zōken đang nắm giữ điều gì đó mà ngay cả Người Giám Sát tiền nhiệm Kotomine Risei cũng không hề hay biết.

“Vậy, tại sao ông lại để Kariya và Berserker tham gia? Nếu chỉ đứng ngoài quan sát, sao còn chuẩn bị Servant?”

“Đó không phải lý do cản trở ta. Dù có vài yếu tố đáng nghi, nhưng nói cho cùng đây vẫn là đại lễ sáu mươi năm có một. Giương mắt nhìn bọn nhãi nhép mò mẫm quờ quạng thì chẳng hay ho gì. Ta đã tìm ra một cách độc đáo để tự mình tận hưởng.”

Zōken nói bằng giọng nhạo báng. Môi lão nhếch lên càng nhiều, và những cái miệng cười hiện lên khắp khuôn mặt.

“Dĩ nhiên, nếu đồ bỏ kia thật sự chạm tới được Chén Thánh thì không gì tốt hơn. Bất kể ta nói sao, ta thật ra rất kiên nhẫn.

Nhìn xem Kariya, kẻ phản bội ta, chìm trong thống khổ ngày qua ngày––– không bao giờ là đủ. Ta mong muốn nhà Matō chiến thắng, mà cũng bị quyến rũ bởi ý muốn trông thấy kết cục thất bại vô dụng của Kariya. Ta thật mâu thuẫn!”

Tràng cười khô khốc của Zōken thật sự chọc vào tai Kirei. Nếu hai bên giáp mặt trên chiến trường và định đoạt mạng sống bằng kiếm chứ không phải đấu võ mồm thì tốt hơn biết bao? Y không thể ngừng nghĩ rằng, dù biết đối phương là một pháp sư già vô cùng nguy hiểm, dường như Kirei không còn chịu nổi sự tồn tại của Matō Zōken.

Đối diện với cuộc tra vấn của một Kirei đang cố hết sức che giấu cảm xúc thật trong lòng, Zōken nhướn mày như thể cố tình chế nhạo y.

“Ô ô, ngạc nhiên thật. Ta nghĩ đáng ra ngươi phải hiểu được thú vui của ta mới đúng.”

“–––Cái gì?”

“Trông ta già nua, Kotomine Kirei, nhưng mũi ta còn thính lắm. Ngươi có mùi giống ta. Ngươi hệt như con giòi đang bò đây, bị thu hút bởi miếng thịt thối rữa Kariya.”

“…”

Kirei vẫn không lên tiếng, nhưng lặng lẽ rút Hắc Kiện từ trong áo choàng.

Giờ đây y hiểu rằng không thể thuyết phục tên pháp sư già này bằng lý lẽ, mà phải đấu với nhau đến chết. Lúc này, Zōken đã phá vỡ ‘khoảng cách’ giữa hai người. Một khi đã bước vào cấm địa, nếu muốn bảo toàn mạng sống, bắt buộc phải giáng cho đối phương một đòn tất sát duy nhất. Matō Zōken đã vượt qua ranh giới. Không phải bằng bước chân, mà bằng lời nói.

Đối mặt với sát ý toả ra từ Kirei, Matō Zōken vẫn cười cợt như trước.

“… Hô? Ta đã đánh giá ngươi quá cao sao? Ta cứ ngỡ đã tìm được một linh hồn giống ta rồi cơ đấy. Có vẻ như tà niệm đó vẫn khiến ngươi hổ thẹn––– haha, còn non nớt lắm. Ngươi có cảm thấy nhục nhã, như một gã đàn ông nhục nhã vì tận hưởng khoái lạc của hắn không?”

Không hề có sự phô trương sức mạnh, cũng không một lời cảnh báo trước. Trong chớp mắt, Kirei đồng thời phóng ra hai Hắc Kiện từ bên trái và bên phải, nhanh đến mức không thể nhìn thấy những cử động chuẩn bị. Có vẻ như y sẽ cắt xuyên người lão già như một miếng thịt nướng.

Thế nhưng, đối mặt với hai thanh kiếm tuốt trần đang lao tới, Zōken vẫn đứng bất động. Lão ta tỏ ra bình thản thực sự. Bóng lão tan chảy như bùn nhão giây lát ngay trước khi lưỡi kiếm xuyên qua, trở lại thành một bóng đen vô định hình ẩn trong góc tối.

Toàn thân Kirei căng lên. Một giọng nói hân hoan đầy nhạo báng vang lên đâu đây.

“Ô, sợ quá sợ quá. Non nớt nhưng vẫn là chó săn của Giáo Hội. Chọc vào ngươi đúng là hại thân.”

Kirei rút ra một thanh Hắc Kiện nữa và nhìn chằm chằm vào cái bóng rục rịch trong màn đêm.

Khoảnh khắc Hắc Kiện của y sắp đâm xuyên xương thịt Matō Zōken, là ảo giác sao? Hay thực thể của lão ta thật ra không hề tồn tại ở đây? Con cáo già xảo quyệt này có thể làm đủ trò dị thường. Nếu mấy thứ vụn vặt này làm Kirei kinh ngạc, vậy thì y đã không phù hợp với vai trò một Đại Hành Giả.

“Kuku, gặp ngươi sau, nhãi ranh. Ngươi phải nuôi dưỡng tâm hồn nhiều hơn thì lần tới giáp mặt mới mong bằng ta được. Hahahaha…”

Zōken tan biến vào bóng đêm, để lại một tràng cười rít róng khủng khiếp. Chỉ còn lại Kirei cầm thanh kiếm đờ ra như một con bù nhìn.

“…”

Bực bội, Kirei ném Hắc Kiện đã vuột mất con mồi xuống sàn.

Y không hề lường trước lão già đó thật ra là một con quỷ, mà cũng chẳng lợi dụng được chút nào. Không có lý do gì để cho lão sống.

Y chắc chắn rằng Matō Zōken là của nợ sớm muộn gì cũng phải xoá bỏ.

Để thoát khỏi màn đêm ngày càng mờ mịt, Matō Byakuya tiếp tục chìm đắm trong rượu chè.
Đêm hôm trước an lành trôi qua. Nhưng hắn bực bội vì điều đó. Biển cả bao giờ cũng yên bình trước cơn bão. Hôm qua không có gì nguy hiểm, nghĩa là hôm nay sẽ có.
Byakuya hiểu rõ sự thật đằng sau những hiện tượng kỳ dị đe doạ Fuyuki về đêm dạo gần đây. Hắn là con trưởng và là người kế thừa gia tộc Matō lừng danh, những tàn dư cuối cùng của dòng máu cao quý đã khởi đầu hành trình tìm kiếm Chén Thánh từ xa xưa. Trên thực tế, lẽ ra hắn đã là một phần của cuộc chiến dị thường và tàn khốc này với vai trò đấu sĩ.
Tuy nhiên, hắn đã quay lưng lại với nhiệm vụ và chìm đắm trong hơi men triền miên, ngày này qua ngày khác. Byakuya không hề cảm thấy xấu hổ về hành động của mình. Ngược lại, hắn thực sự nghĩ rằng mình mới là kẻ làm đúng và hợp lý, khi so sánh với thằng em trai Kariya. Byakuya có thể nói điều đó với niềm tự hào căng tràn trong lồng ngực.
Byakuya không bao giờ hiểu nổi tại sao Kariya, kẻ đã bị nhà Matō từ mặt từ lâu, lại trở về quê hương và còn tham dự vào Cuộc Chiến Chén Thánh. Hắn thậm chí không buồn hiểu. Hắn không thể không cảm kích em trai vì đã đổi ý. Nếu nó không trở về, kẻ bị tha hoá tới mức đó và bị ép tham chiến không phải Kariya, mà là chính Byakuya. Kariya đã gọi lên từ vòng tròn triệu hồi một nhân dáng hắc ám, tựa như ác linh đầy oán hận kết tụ, và lập giao ước với nó. Mỗi lần nhớ lại nỗi kinh hoàng lúc đó, hắn buộc phải mượn rượu xua đi.
Làm sao một người có thể giữ được tỉnh táo khi biết có những sáu vật khác giống thế đang chém giết lẫn nhau và ngấu nghiến máu thịt con người trong đêm? Fuyuki bây giờ là một cơn ác mộng có thật. Rượu là thứ duy nhất hắn có thể dựa vào để tiếp tục sống và duy trì tỉnh táo ở cái chốn này.
Đứa con trai độc nhất Shinji của hắn đã được gửi ra nước ngoài, lấy cớ đi du học. Chính Byakuya cũng cực lực phản đối việc phải ở lại Fuyuki lúc này. Dù vậy, hắn không có lý do hợp lý để rời nhà. Zōken đã giao cho hắn nhiệm vụ huấn luyện con bé nhận nuôi từ nhà Tōsaka thích nghi với hầm chứa trùng, để một ngày nào đó đủ khả năng trở thành người đứng đầu nhà Matō.
Đúng vậy. Byakuya đã hoàn thành công việc của trưởng gia Matō đương nhiệm một cách gần như hoàn hảo. Kế hoạch ban đầu của Zōken là chỉ ngồi một bên quan sát Cuộc Chiến Chén Thánh trong bất kỳ tình huống nào. Nói cho cùng, Kariya đơn giản chỉ là món đồ chơi trong tay lão. Byakuya là kẻ duy nhất trong nhà Matō hiện nay biết lựa chọn con đường đúng đắn. Số lượng mạch ma thuật không phải là vấn đề. Thậm chí nếu hắn chỉ đủ khả năng đánh bại một đứa trẻ, Byakuya vẫn tin tưởng sâu sắc rằng con đường của hắn là cái duy nhất thật sự dẫn đến tương lai của gia tộc…
Hắn tự nhủ và tiếp tục nốc từng ngụm rượu lớn xuống dạ dày trong khi miệt thị thằng em.
Trở thành pháp sư nhà Matō đồng nghĩa với làm con rối của Zōken, kẻ giật dây mọi thứ sau cánh gà. Byakuya hiểu rõ như thế, và hắn không có chút thương cảm nào với Kariya, từng bỏ nhà đi nhưng lại ngu xuẩn quay về và tình nguyện làm lồng ấp cho lũ Khắc Ấn Trùng. Ngay từ đầu hắn đã chẳng có bao nhiêu tình cảm gia đình với đứa em này. Kariya tài năng hơn người anh, nhưng đã đi hoang và buộc số phận bị nguyền rủa bao đời nay của nhà Matō lên vai Byakuya. Làm sao hắn có thể thông cảm với một kẻ như thế được?
Aa, tại sao hôm nay hắn vẫn không thấy buồn ngủ? Thường thì hắn phải ngủ say như chết từ lâu rồi. Hắn chưa uống đủ, hắn chưa đủ say. Hắn muốn quên hết những gì đang diễn ra bên ngoài dinh thự càng sớm càng tốt, muốn đêm trôi qua càng nhanh càng tốt––– nhưng ai đó đã cầm lấy cốc rượu trên bàn và đố tất cả chỗ nước lạnh băng lên đầu hắn.
Hắn choáng váng bởi cái lạnh cắt da cắt thịt một chốc, nhưng ngay lập tức tỉnh rượu. Một lực ép đang tàn nhẫn đè lên má hắn. Byakuya co rúm lại trên tấm chăn trải giường.
Thần kinh Byakuya chấn động. Ngay cả tiếng thét kinh hoàng cũng nghẹn lại trong cổ hắn. Một người đàn ông ma quỷ có bộ dạng khiến Byakuya lạnh sống lưng, đang đứng đó nhìn xuống hắn.
Ông ta mặc chiếc áo choàng cũ bẩn thỉu nhăn nhúm, và đám râu lởm chởm dưới cằm cho thấy chủ nhân đã nhiều ngày không cạo râu. Nếu chỉ xét vẻ bề ngoài, gã này trông còn giống một tên bợm nhậu trong quán rượu hơn cả Byakuya, đang ở nhà mình và mặc thường phục. Song con mắt ông ta phủ nhận tất cả. Trong đôi mắt đó đã không còn độc ác hay tàn nhẫn. Chúng chỉ ngập tràn sự tàn bạo lạnh lùng và mối nguy chết người toát ra từ một con thú bị thương. Sau khi nhìn vào đôi mắt đó, Byakuya bị buộc phải từ bỏ mọi nỗ lực làm sáng tỏ thân thế hay công việc của người đàn ông này, và hoàn toàn trở thành nô lệ trong tuyệt vọng.
Kẻ này là ai, sao có thể phá vỡ hàng lớp kết giới bảo vệ mạnh mẽ bên ngoài toà nhà, tất cả đều không còn quan trọng nữa. Thứ đang xuất hiện trước mặt Byakuya, không nghi ngờ gì nữa, là hiện thân của nỗi kinh hoàng hắn chỉ có thể tạm quên đi nhờ ảnh hưởng của rượu trong tuần qua.
“… Irisviel đang ở đâu?”
Trước khi hiểu ý nghĩa câu hỏi, Byakuya đã biết chắc rằng hắn bắt buộc phải trả lời, bằng không hắn sẽ bị giết.
–––Sau một thoáng, cuối cùng hắn nhận ra rằng mình thật sự không hiểu. Byakuya lập tức sốc mạnh trong nỗi sợ hãi cùng cực.
“Tôi, tôi, tôi…”
Byakuya rên rỉ một cách ngu ngốc. Người đàn ông ném cho hắn một cái nhìn lạnh lẽo và chậm rãi rút vũ khí ra khỏi áo. Ông ta thô bạo ép mạnh cánh tay phải của Byakuya giữa nền nhà và họng súng rồi bóp cò.
Cánh tay Byakuya bị thổi tung cùng một tiếng súng khủng khiếp có thể làm bất cứ ai phát điên.
Một phần cơ thể hắn vừa biến mất không một lý do. Byakuya chấn động đến nổi không thể mở miệng. Lát sau, hắn bắt đầu gào thét điên dại vì đau đớn.
“Kh, kh-kh-kh-không biết không biết không biết! Tôi không biết gì hết! Aaa! Tay tôi! Kyaaaaa!”
“…”
Không ai giàu kinh nghiệm trong việc khai thác thông tin từ những người không tự nguyện nói ra như Emiya Kiritsugu. Linh cảm được mài giũa theo năm tháng của Kiritsugu mách bảo rằng, dù ông có hỏi thêm cũng chưa chắc đã nhận được câu trả lời.
Linh hồn của Matō Byakuya đã bị huỷ hoại từ lâu. Dù Kiritsugu không rõ lý do, Byakuya đã buộc chính mình bước vào con đường một đi không trở lại trước khi Kiritsugu đến.
Nhìn lại thì Kiritsugu chính là chút tác động nhỏ nhoi cuối cùng đã khiến hắn hoàn toàn gục ngã và vỡ nát. Gã đàn ông trước mắt sẽ không do dự làm bất cứ điều gì để giải thoát khỏi nỗi đau lúc này, kể cả phản bội Zōken. Khi đã chạm đến trạng thái như thế, mọi thứ con người nói ra đều là sự thật được đảm bảo.
Có vẻ như Byakuya thật sự không biết chuyện gì đã diễn ra trong vòng vài giờ trước.
Nghĩa là––– đích đến của kẻ bắt cóc Irisviel chắc chắn không phải dinh thự Matō.
Ông đã tốn hàng giờ để phá kết giới bảo vệ trong hoàn cảnh vô cùng áp lực và căng thẳng, và hiện giờ kết quả là con số không. Kiritsugu không thể làm gì ngoài nghiến răng tiếc hận.
Bằng phương pháp loại trừ, chỉ bọn nhà Matō mới có thể bắt cóc Irisviel. Master của Rider không có khả năng dò ra được những hành dinh bí mật mà Kiritsugu đã chuẩn bị, trong khi Tōsaka chẳng cần phải hành động mâu thuẫn như vậy khi mà hai bên vừa trở thành đồng minh đêm qua.
Mặc dù khả năng có một phe đối lập khác vừa lộ diện giữa bảy Master và Servant là rất thấp, không hẳn là không thể. Tuy nhiên, những suy đoán mò mẫm đó hiện giờ không thể đưa lại cho ông kết quả gì. Ngay lúc này, ông chỉ có thể tìm kiếm kẻ thù ẩn trong số ba Master vẫn được Servant bảo vệ và cần có Irisviel cho giờ phút cuối cùng.
Gần bốn giờ đã trôi qua kể từ cuộc đột kích hầm chứa. Chiến thắng vuột xa khỏi tay Kiritsugu từng giây ông đánh mất, ông không có thời gian để dừng lại và suy nghĩ một cách thấu suốt.
Kiritsugu chẳng buồn liếc tới Byakuya đang thổn thức vì đau đớn và khiếp hãi, và rời khỏi dinh thự nhà Matō.
Kiritsugu lại mất khoảng ba giờ để xâm nhập vào tường pháp thuật bảo vệ dinh thự Tōsaka, mục tiêu kế tiếp.
Các phương pháp ông sử dụng gần như là phi thường. Kết giới Tōsaka Tokiomi dựng lên là một hệ thống an ninh bậc nhất chuyên dụng để ngăn cản các pháp sư, không thể bị phá vỡ dù có tấn công trực diện liên tục suốt một năm ròng rã. Chính vì là ‘kẻ giết pháp sư’, chỉ dùng những cái bẫy mà các pháp sư không thèm để mắt tới, ông mới vượt qua được bức tường thành này trong thời gian ngắn như vậy.
Song, dù ông hành động nhanh nhẹn đến mức nào, trong tình hình hiện tại, quãng thời gian đó vẫn đủ khiến ông lo âu. Ông chưa bao giờ lãng phí nhiều đến thế này khi chiến đấu. Cuối cùng ông tiến vào khoảng giữa cửa chính và phòng khách, nhưng Kiritsugu vẫn bị dày vò bởi nỗi lo khó gọi tên lúc ông bước vào sảnh chờ. Dù đã bất chấp tính mạng xông vào trong kết giới, không có gì đảm bảo rằng ông sẽ tìm được Irisviel, như ở nhà Matō vừa rồi.
Saber, đuổi theo Irisviel trước Kiritsugu một bước, hẳn cũng đã thất bại. Ông có thể cảm thấy mạch cung cấp ma lực không hề bị gián đoạn, chứng tỏ Saber không gặp trở ngại lớn nào. Tuy vậy, nếu Irisviel đã được bảo vệ an toàn, chắc chắn cô sẽ kích hoạt hệ thống tín hiệu chỉ dẫn và thông báo chi tiết cho Kiritsugu vị trí hiện tại của mình. Ông vẫn chưa nhận được chúng, nghĩa là Saber đã hoài công vô ích.
Sau khi cẩn thận gỡ phong ấn trên cửa sổ, ông tháo chốt trong bằng dụng cụ cắt kính. Cuối cùng Kiritsugu đã lọt vào bên trong dinh thự Tōsaka. Không chút ánh sáng nào được thắp lên, tất cả hoàn toàn tĩnh lặng. Gần như một toà nhà hoang vô chủ. Tuy nhiên, vì biệt thự vô cùng bề thế, khó có thể rút ra kết luận ngay. Là một Master xuất sắc, Tokiomi thận trọng hơn trưởng nam nhà Matō rất nhiều. Vạn nhất tình cờ chạm mặt nhau, Kiritsugu chắc chắn phải chuẩn bị tinh thần để đấu với ông ta. Hiển nhiên ông ta sẽ sử dụng Archer, và Kiritsugu cũng sẽ phải triệu hồi Saber tới đây, sử dụng Lệnh Chú một lần nữa để bắt buộc cô dịch chuyển.
Mặc dù ông muốn tránh đối đầu trực diện giữa Saber và Archer, kẻ mà kỹ năng chiến đấu thực thụ vẫn còn là bí ẩn, tình huống hiện tại quá khẩn cấp khiến ông khó lòng cân nhắc chiến thuật. Tuy nhiên, ông cũng hy vọng chỉ phải đánh khi đã xác định được tung tích của Irisviel. Nếu chẳng may một kẻ giấu mặt đang giữ Irisviel, vậy thì đấu tay đôi với nhà Matō hay Tōsaka chính là mắc bẫy hắn. Buộc phải cân nhắc và cảnh giác trước khả năng này là điều khiến ông khó chịu nhất.
Thình lình, khi ông bước vào căn phòng tối om, khứu giác của Kiritsugu phát hiện ra một thứ.
Đó là mùi máu. Còn tươi.
Ông tập trung ma lực vào đôi mắt và sử dụng khả năng nhìn đêm. Ngay tức khắc ông có thể nhìn thấy toàn bộ nội thất và bài trí của căn phòng với độ nét hoàn hảo. Có vẻ như đây là phòng khách. Trên bàn còn có hai tách trà.
Một vũng máu lớn đọng ngay giữa tấm thảm đắt tiền.
Kiritsugu cẩn thận kiểm tra vũng máu đã khô hoàn toàn. Mặc dù máu không bắn ra trên diện rộng, vết thương xem ra không nhẹ. Với kinh nghiệm của mình, ông kết luận rằng chỉ có một chỗ máu này, và chảy ra từ vết thương do bị đâm.
Kiritsugu kiểm tra tất cả các phòng khác, chỉ để phòng xa. Tuy vậy, mục đích của ông không còn là nắm bắt tình hình, mà để tìm kiếm những người trong nhà.
Là xuất phát điểm và phương tiện chuyển tải của ma thuật, máu là nguyên liệu quan trọng bậc nhất. Một pháp sư tuyệt đối không nghĩ đến chuyện tự làm đổ máu mà không nhằm mục đích thi triển phép thuật. Tất nhiên, nếu đó được coi là thói quen kì quặc của pháp sư thì lại là vấn đề hoàn toàn khác. Song dựa trên những điều tra trước đây của Kiritsugu, Tōsaka Tokiomi không phải là người bất cẩn như thế.
Linh cảm của ông được khẳng định khi ông xuống đến xưởng phép dưới tầng hầm không mấy khó khăn. Một pháp sư không bao giờ cho phép người khác dễ dàng đặt chân vào xưởng phép cho dù ông ta không có mặt ở đó. Xem ra Tokiomi không chỉ vắng nhà, mà còn đang trong tình trạng không thể theo dõi được động tĩnh trong dinh thự.
Kiritsugu lấy từ trong túi ra một ống nhỏ giọt chứa chất lỏng có thể kiểm tra giả thiết của ông. Dung dịch được tạo ra bằng cách tinh chế dịch cơ thể của succubus, một loại quỷ chuyên quyến rũ đàn ông. Nó cực kỳ nhạy với máu người và chất thải, và có thể phân biệt chúng cực kỳ chính xác.
Trước tiên ông thử phản ứng của dung dịch trong bồn rửa mặt, rồi với vũng máu trong phòng khách. Phản ứng của cả hai đều giống nhau. Chỉ một người có thể cạo râu tại bồn rửa này trong mấy ngày gần đây.
Và máu của người đó đã nhuộm đỏ tấm thảm trong phòng khách…
Giờ thì ông hoàn toàn cầm chắc rằng Tokiomi đã chết mất xác rồi.
Đối mặt với tình huống khẩn cấp do bước ngoặt đầy bất ngờ này, Kiritsugu cố hết sức giữ bình tĩnh và bắt đầu đánh giá tình hình.
Trong phòng không có dấu hiệu vật lộn. Hai tách trà đặt đây nhằm mục đích mời khách. Tokiomi chắc chắn đã lãnh một vết thương nặng, thậm chí trí mạng sau khi trò chuyện với người được ông ta coi là khách. Dường như Kiritsugu không phải người duy nhất căm thù các pháp sư.
Vậy thì lúc đó Servant của Tokiomi đang làm gì? Sao hắn có thể chỉ đứng nhìn thờ ơ trước Master? Nhưng vẫn còn một khả năng nữa… có thể Archer đã không còn cần Tokiomi làm Master của hắn, và cùng người vừa lập giao ước mới giết chết ông ta. Cách giải thích này cũng hợp lý.
Trước câu trả lời không mấy vui vẻ rút ra sau khi đeo đuổi dòng suy nghĩ, ruột gan ông như bị vò xé.
Thân hữu của Tōsaka Tokiomi, được coi là khách quý, người mà Tokiomi có thể bộc lộ điểm yếu của mình.
Master mới của Archer, lúc này rất có khả năng đã khôi phục được Lệnh Chú––– một người mất Servant, đồng nghĩa với mất quyền làm Master, từ trước, nhưng vẫn còn sống.
Chẳng cần nghĩ gì thêm. Chỉ có một kẻ như vậy. Hơn nữa, nếu hắn thực sự đã có Servant mới và quay trở lại Cuộc Chiến Chén Thánh, thì hành động bắt cóc Irisviel và tự mình nắm giữ ‘Vỏ bọc của Chén Thánh’ hẳn là một nước đi hợp lý và cần thiết.
Bởi vậy––– cuối cùng Kiritsugu hiểu rằng không thể tránh khỏi trận huyết chiến với Kotomine Kirei được nữa.


Chú thích:

[1]↑ Gosanke 御三家, nguyên là tên gọi ba nhánh gia tộc Tokugawa trong lịch sử Nhật Bản (đại khái là dùng có dụng ý nên TL quyết định giữ phiên âm)

Fate/Zero – Quyển 4, chương 7

Từ một cao ốc đằng xa, ba cặp mắt đang dõi theo Bảo Khí bay của Rider trên bầu trời thành phố Shinto và người đuổi theo nó, Saber.

Mắt một người lộ rõ sự thoả mãn. Một cặp mắt khác chứa đựng sự mệt mỏi cùng cực. Và một người nữa––– lẽ nào đôi mắt chỉ toát lên sự cuồng bạo ấy, vẫn được coi là thuộc về con người?

“Không ngờ Rider thật lại xuất hiện… Đúng là một màn kịch đáng xem. Matō Kariya, cậu thường đem tới may mắn cho đồng minh của mình đấy.”

Kotomine Kirei cười bóng gió đầy mỉa mai. Cùng lúc, y vỗ vai Kariya tỏ ý khen ngợi. Con mắt phải còn tốt của Kariya nhìn y đầy nghi ngờ.

“Thưa Cha… Liệu chuyện cỏn con này có đáng để phí tới hai Lệnh Chú không?”

Kariya nhìn vào bàn tay phải đã mất hai Lệnh Chú của mình, ít nhiều bất mãn. Kirei mỉm cười nói.

“Đừng lo. Kariya, miễn là cậu nguyện ý giúp ta, cậu không cần băn khoăn về chuyện lãng phí Lệnh Chú nữa––– nào, dang tay ra.”

Kirei nắm lấy bàn tay phải khô quắt những gân của Kariya và thì thầm một đoạn Kinh Thánh trong khi kích hoạt Lệnh Chú của chính mình. Dưới sự trợ giúp của y, những Lệnh Chú u ám trên tay Kariya lập tức bừng sáng và trở lại hình dáng ba dấu hiệu ban đầu.

“Cha… thực sự–––”

“Chẳng lẽ ta chưa nói với cậu? Ta đã nhận trách nhiệm của Người Giám Sát, cho nên ta có quyền tuỳ ý phân phối các Lệnh Chú mà Giáo hội gìn giữ.”

“…”

Kariya không giỏi đoán ý người khác, hắn chăm chú nhìn Kirei, rồi thở dài quay qua Servant của mình.

Thân hình to lớn đứng đằng sau hắn là Rider, Vua Chinh Phục, Alexander. Dù là chiến bào đỏ thẫm hay bộ tóc quăn màu đỏ, hay vóc dáng vạm vỡ––– tất cả đều giống hệt người đang lái cỗ chiến xa vụt ra khỏi thành phố Fuyuki với Saber. Sự khác biệt duy nhất chính là đôi mắt bí hiểm màu đỏ máu toát ra sự oán hận… Hiển nhiên, đây chính là đặc điểm nổi bật của một Servant Cuồng Hoá.

Trên cánh tay vạm vỡ đó là cơ thể mảnh mai của Irisviel, đang hôn mê bất tỉnh. ‘Rider’ này chính là thủ phạm thật sự đã bắt cóc ‘Người canh giữ Chén Thánh’ từ nhà kho ngầm do Maiya bảo vệ và dẫn dụ Saber truy đuổi về hướng Shinto.

“… Đủ rồi, Berserker.”

Kariya gật đầu. Cơ thể to lớn của Vua Chinh Phục hoá thành một màn sương đen nhánh như thể bị thiêu rụi, và rồi trở lại thành thân hình bọc giáp sắt với một luồng khí đáng sợ. Năng lượng hắc ám bắt chước ngoại hình của Rider giờ cuộn xung quanh tay chân hắn, che phủ những phần nhỏ của bộ giáp đen.

Nhìn thấy Berserker trở về nguyên hình, Kirei cất giọng than thở.

“Khả năng biến hình này… Là Bảo Khí của cấp Berserker thì lãng phí quá.”

“Ban đầu hắn có khả năng biến thành nhiều Anh Linh khác, những người lập được chiến công. Do thuộc tính Cuồng Hoá, kỹ năng này suy giảm, chỉ còn là ‘bắt chước’.”

Làn sương màu đen cuốn quanh cơ thể Berserker vốn là một Bảo Khí không chỉ nhằm che giấu tung tích, mà còn có thể giả mạo bất cứ ai để đánh lừa tai mắt kẻ địch. Từ khi Berserker mất đi lí trí, khả năng này không thể phát huy. Kariya đã buộc nó bộc lộ thông qua sức mạnh của Lệnh Chú, khiến Berserker có thể cải trang thành Rider. Nhưng chỉ dùng được một lần.

“A… ư…”

Berserker chằm chằm dõi theo ánh đèn pha xe mô-tô của Saber xa dần về phía đông, ánh mắt tràn ngập hận thù. Nỗi hận thấu xương này làm vai hắn rung lên không ngừng, bộ áo giáp bị cọ xát phát ra những âm thanh ken két, nhưng hắn không làm gì bất thường. Đó là vì sự kìm giữ của mệnh lệnh tuyệt đối mà Kariya đưa ra––– “bắt giữ Irisviel, và mặc Saber chạy thoát.”

Để khiến Berserker, kẻ ngoan cố khác thường khi gặp Saber, nghe lệnh, cần sử dụng một mệnh lệnh gắt gao để kiềm chế hắn.

Với Berserker, có vẻ những trói buộc đó gần như quá sức chịu đựng. Mặc dù nhiệm vụ của hắn đã hoàn thành, hắc kỵ sĩ như một thứ máy móc bị hỏng, tay chân hắn co giật liên tục, kiên quyết chống đối.

Chứng kiến sự ngoan cố của Berserker, Kariya chợt thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng. Khi Berserker rơi vào trạng thái mất kiểm soát, Kariya liền ngắt kết nối ma lực với hắn ta. Mất đi ma lực duy trì hình dạng trong thế giới này, Servant ngay lập tức trở về dạng linh hồn, và cơ thể Irisviel, mất điểm tựa, bị ném mạnh xuống nền sân thượng. Lúc va đập, homunculus đang ngủ say phát ra tiếng rên rỉ yếu ớt, nhưng vẫn không mở mắt. Kể từ khi bị lôi một cách thô bạo ra khỏi ma pháp trận dưỡng sức, khả năng nhận thức của Irisviel đang yếu dần đi.

“Người này có thực sự là ‘Vỏ bọc Chén Thánh’?”

“Nói đúng hơn, homuculus này. Nếu một hoặc hai Servant nữa biến mất thì nó sẽ bộc lộ hình dạng thật… Ta sẽ chuẩn bị các nghi lễ đón Chén Thánh hạ phàm. Cho đến lúc đó, hãy tạm để cô ta dưới sự bảo vệ của ta.”

Người đàn ông mặc áo thụng nhấc cơ thể yếu ớt của Irisviel lên. Kariya lặng lẽ nhìn y một cách nghi ngờ.

Kirei nhận ra cái nhìn đó và trả lời như trước với một nụ cười ung dung và tự mãn.

“Đừng lo. Ta sẽ cho cậu Chén Thánh như đã thoả thuận. Ta không cần theo đuổi cỗ máy ban phát điều ước.”

“Trước đó, có vẻ như ngài còn hứa với tôi một việc khác, thưa Cha.”

“À, chuyện ấy sao… Tất nhiên là không vấn đề gì. Chỉ cần đến nhà thờ lúc nửa đêm nay. Ta sẽ sắp xếp cho cậu gặp Tōsaka Tokiomi.”

“…”

Thực sự vị linh mục này đang suy tính chuyện gì?––– Luôn không thể đoán được mục đích của y khiến Kariya vô cùng lo lắng.

Mặc dù Kirei từng là đệ tử của Tōsaka Tokiomi, vì tham gia Heaven’s Feel, ông ta đã tách ra và trở thành một Master – một tên đạo đức giả. Nhưng dưới góc nhìn của nhà Matō đã tham gia Heaven’s Feel trước, sự thông đồng giữa nhà Tōsaka và Giáo Hội đã phơi bày từ lâu. Lần này, chẳng cần nói cũng biết đứa con trai này của Người Giám Sát, đồng thời là Đại Hành Giả của Giáo Hội, đã triệu hồi Assassin làm tay sai cho Tokiomi.

Trưa hôm ấy, Kirei đã bất ngờ chạy đến gõ cửa nhà Matō, nói rằng muốn bàn về việc thành lập một liên minh. Theo y, Tōsaka phải chịu trách nhiệm về cái chết của Người Giám Sát Kotomine Risei. Là một người con, y cần trả thù cho cha, nên muốn mượn tay nhà Matō giết Tōsaka.

Mặc dù Kariya biết rằng ý định này rất đáng ngờ, những điều kiện đặt ra quá đỗi hấp dẫn.

Người này không chỉ đề ra kế sách bẫy Tokiomi mà còn điều tra được nơi Einsbern, người bảo vệ ‘Vỏ bọc Chén Thánh’, ẩn náu và bí mật chiếm quyền cất giữ các Lệnh Chú với vai trò Người Giám Sát, có thể nói rằng y đang nắm giữ con át chủ bài ở nửa sau Heaven’s Feel.

Với Kariya, đang giữ quả một quả bom hẹn giờ tên gọi Berserker, bị cô lập và thậm chí còn không tin tưởng gia tộc mình, sự trợ giúp của Kirei còn hơn đội quân ngàn người, hắn lập tức bị thuyết phục. Nhưng điều kiện đặt ra là Kariya phải tin tưởng mọi lời Kotomine Kirei nói.

Kotomine Kirei có thể đảm bảo rằng homuculus của nhà Einsbern đã nằm trong tay. Y còn hào phóng khôi phục Lệnh Chú đã mất cho Kariya… Dù vậy, Kariya không thể hoàn toàn tin tưởng vị linh mục có nụ cười bề ngoài đầy vẻ ung dung tự mãn đó.

Thái độ của người này thực sự quá thoải mái. Có lẽ bởi sự tự tin nhờ bí mật y nắm giữ, đó chính là yếu tố tiên quyết. Nhưng nếu Kirei hành xử theo cách ấy chỉ để xem cho vui như thế này––– nghĩa là y không hề cảm thấy nguy hiểm khi đối mặt với chiến trận, hay cảm giác lo lắng khi cân nhắc chiến thuật.

Nếu cần mô tả thật chính xác, cái cười đó gần với nụ cười của một đứa trẻ đang hứng thú với trò chơi hơn. Trên danh nghĩa phản bội ân nhân để báo thù cho cha, người này đã liên minh với hắn. Nhưng rõ ràng y rất vui sướng trong tình hình hiện nay…

“Việc hai ta xuất hiện cùng lúc sẽ rất đáng ngờ. Kariya, sao cậu không quay về trước đi?”

“… Còn Cha?”

“Ta vẫn còn vài việc vặt… Đừng quên, Kariya. Tối nay, lúc nửa đêm, tâm nguyện của cậu sẽ được hoàn thành tại đó.”

Vị linh mục nhắc nhở hắn một cách hào hứng. Dường như y quan tâm đến chuyện này còn nhiều hơn cả Kariya.

Một lần nữa, Kariya lại nhìn nụ cười đó với vẻ nghi ngờ, rồi chậm chạp vòng về phía cầu thang.

Không chút sơ hở, Kirei cẩn thận lắng nghe từng bước chân xa dần. Sau khi chắc chắn tiếng bước chân đã hoàn toàn biến mất––– y bước đến một góc sân thượng và hướng ánh mắt vào đống phế liệu phủ những tấm vật liệu chống nước.

“… Ta đã đuổi hắn đi rồi. Ta không biết ông là ai, nhưng chẳng phải đến lúc ra mặt rồi sao?”

Giọng nói tỏ rõ một mệnh lệnh không cho phép thoả hiệp. Sau một thoáng yên lặng, một tiếng cười nghèn nghẹt rợn tóc gáy vang lên, thấm vào màn đêm lạnh giá.

“Ồ, nhận ra rồi à? Không hổ danh là Đại Hành Giả lão luyện trên chiến trường. Nhạy cảm hơn thằng nhãi Kariya nhiều.”

Từ trong bóng tối, xuất hiện một hình dáng mờ mờ. Thoạt nhìn, Kirei nghĩ đó là một đống sâu bọ kinh tởm sẽ khiến bất kỳ ai cũng phải rùng mình––– nhưng ánh trăng sáng lập tức xua tan ảo ảnh. Đó chỉ là một lão già hom hem đang lặng lẽ bước ra.

“Đại Hành Giả, đừng lo. Ta không phải kẻ thù. Ta là họ hàng của thằng nhãi đang hợp tác với ngươi.”

Nghe lão xưng danh như vậy, trong lòng Kirei lập tức nghĩ đến một người phù hợp.

“Matō Zōken… phải không?”

“Phải. Ngươi thậm chí còn biết tên ta. Có vẻ Tōsaka dạy dỗ đệ tử của hắn khá tốt.”

Lão pháp sư nhấc khoé môi ẩn sâu dưới những nếp nhăn, vẽ nên một nụ cười độc địa.

Bóng đêm bao trùm con đường núi đã không còn mang dáng vẻ gì của một buổi tối. Dường như giờ là đêm khuya.

Trong đêm đen như mực, xoè tay không rõ năm ngón, ánh đèn pha chói loà xé toạc màn đêm. Saber vẫn đang cưỡi con quái vật thép của mình như thể mạng sống của cô phụ thuộc vào nó.

Cô đã từng đi trên con đường này khi hộ tống Irisviel ra khỏi thành phố. Khi họ rời đi, người cầm lái là Irisviel, lúc trở lại, là Saber nắm chặt tay lái chiếc Mercedes-Benz, nắm rõ lộ trình trong lòng bàn tay. Tuy chỉ hai lần đến và đi, nhưng thế là đủ cho Saber. Trí nhớ của cô tốt hơn mức bình thường rất nhiều. Dù là chiều rộng, góc nghiêng của mặt đường, ngay cả việc vào khúc cua ở đâu, cô đều có thể hồi tưởng rất rõ.

Saber thấy G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) của Rider vừa hạ thấp độ cao và đáp xuống ở phía xa. Không rõ vì sao, vị Vua Chinh Phục không tiếp tục bỏ trốn mà hạ cánh xuống đất, có vẻ như muốn đáp lại lời khiêu chiến trên mặt đất của Saber.

Chí khí anh hùng của Rider chắc hẳn không phù hợp với chiến thuật hèn nhát như bắt cóc Irisviel, nhưng đây có lẽ chính là sự xung khắc giữa ông ta và Master. Những hành động của Servant bị khống chế bởi giao ước thường đem lại kết quả trái ngược, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Đó là những kinh nghiệm Saber có được, xuất phát từ mâu thuẫn giữa mình và Emiya Kiritsugu.

Saber vô cùng vui mừng rằng Rider có thể tự mình quyết định chiến trường cuối cùng. Kiritsugu không thể xen vào giữa hai kỵ sĩ thần tốc này cho dù ông ta mong muốn đến mấy. Đó là điều cô vô cùng khao khát.

Mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ khác––– sự rung chấn của tay lái cô đang giữ chặt đã truyền đến tín hiệu nguy hiểm.

Là một cỗ máy nhân tạo, chiếc V-MAX đã triển khai hết mọi khả năng. Đáng buồn thay, Bảo Khí trước mặt lại di chuyển nhanh phi thường. Dù V-MAX được gia tốc bởi ma lực nội thân của người điều khiển là Saber, sức mạnh kết cấu vật chất của nó rõ ràng bị giới hạn.

Động cơ và hệ thống gia tốc, được sử dụng tối đa không ngừng nghỉ kể từ lúc còn ở trong thành phố tới đây, giờ đã xuất hiện dấu hiệu đình trệ. Kĩ năng điều khiển tuyệt vời của Saber cho phép cô nhận biết tình trạng của phương tiện như một phần cơ thể chính mình. Cô có thể nghe thấy rõ tiếng nó rền rĩ vì sắp đạt đến giới hạn.

“Cứ thế này thì tệ thật…”

Chẳng có gì phải bàn nếu Saber cân nhắc tới áp lực chiếc xe đang phải gánh và giảm tốc, nhưng giả như cần tiếp tục duy trì tốc độ cao thì nó chắc chắn sẽ rã ra từng mảnh trong ít phút nữa. Nếu không dùng cách gì để tăng cường khả năng ban đầu của nó…

Saber cảm thấy khó khăn khi xem xét tính khả thi của kế hoạch vừa loé lên trong đầu, nhưng không thể do dự thêm nữa. Cô hạ quyết tâm và đặt niềm tin vào mọi khả năng mình được ban cho với tư cách một Servant.

Bộ giáp bạch kim toàn thân mặc khi chiến đấu – giờ cô dự định không trang bị trên người mà hợp nhất nó với chiếc V-MAX nhờ niệm lực mạnh mẽ. Cơ bản cũng giống như mặc giáp cho chiến mã thân yêu khi ra trận. Lấy ý niệm về tính đồng nhất làm căn bản, lúc này cô phải hoàn toàn biến con quái vật thép câm lặng này thành một phần cơ thể…

Ma lực của cô liên tục phát ra, các bộ phận quan trọng của V-MAX giúp nó di chuyển với vận tốc tối đa được ma lực bao phủ hoàn toàn bảo vệ, độ linh hoạt và sức mạnh của áo giáp đã làm tăng khả năng của chiếc xe.

“–––Tuyệt lắm!”

Dù cách này chỉ là bất đắc dĩ, kỹ năng siêu việt của Saber đã hoàn thành tốt công việc khó khăn. Toàn bộ cấu trúc của chiếc V-MAX được bao bọc trong bộ giáp bạc sáng loáng uy phong lộng lẫy. Kết cấu khủng này không hề kém cạnh sức mạnh dị thường của nó, lúc này, con sư tứ máy đã biến thành một ma thú thực sự. Ống xả gầm vang.

Saber giải phóng Phong Vương Kết Giới như một mũi tên ra phía trước, bao phủ hoàn toàn thân xe. Nhờ lớp khí nén của khiên gió triệt tiêu lực cản không khí, chiếc V-MAX được giải phóng hoàn toàn khỏi khí áp.

Kim chỉ trên tốc kế của xe đã hỏng. Ma lực của Saber khiến chiếc xe siêu tốc vượt qua mọi định luật vật lí, lúc này vận tốc đã là hơn 400km/h. Áp lực do ma thuật giải phóng ra đè mạnh bánh sau xuống nền xi măng, ngay cả khi rẽ, Saber cũng buộc cả thân xe quay ngang chứ không hề giảm tốc.

Như thế có lẽ khả thi hơn––– Saber vô cùng phấn khích vì đã nắm bắt được cơ hội chiến thắng mong manh này sau rất nhiều nỗ lực.

Khoảng cách tới G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) phía trước rút ngắn dần. Ban đầu chỉ là một đốm sáng, song giờ đã có thể trông rõ hình dạng chiếc xe đang lao tới, toé lửa và ngoặt cua với tốc độ kinh người.

Ở bên kia, Waver, ngồi trên ghế lái của chiếc chiến xa, đang chăm chú quan sát mọi động tĩnh phía sau kể từ lúc đáp xuống. Nhìn thấy ánh đèn pha chói loà đột ngột phóng đến, cậu không khỏi hoảng hốt, nín thở giật mạnh áo choàng của Rider.

“Rider, cứ như thế này thì họ sẽ đuổi kịp mất! Ê, đồ ngốc, nhìn ra phía sau đi chứ!”

Nghe thấy giọng nói kinh hoảng của Waver, Rider khịt mũi. Là một anh hùng từng hiện diện trên thế giới này và đoạt được danh hiệu Rider, thì dù có quay lưng, ông cũng có thể cảm nhận rất rõ Saber đang tiến lại gần.

“Cô nàng đó, Saber. Bằng một vật nhân tạo mà bắt kịp được ta, thật không thể không ca ngợi. Mặt khác…”

Rider gầm lên, khoé môi vặn vẹo làm nụ cười thường lệ dường như thêm phần ranh mãnh.

“Tiếc quá, đây là một chiếc chiến xa. Ta không thể tiếp tục ân cần với cô trong cuộc đua tốc độ này được nữa rồi.”

Và Rider liệng cỗ xe khổng lồ áp sát lề đường.

Hai bên hông G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) lớn hơn cả một chiếc xe tải thông thường, được trang bị lưỡi liềm khổng lồ sắc lẹm. Một khu rừng rậm rạp bao trùm con đường cao tốc Rider đang phóng tới. Nếu bánh xe chạm đến mép đường nhựa thì lưỡi liềm chắc chắn sẽ phạt ngang rừng cây um tùm–––

“Thế, Saber, đuổi theo ta đi!”

Cặp bánh xe toé lửa của cỗ chiến xa vọt qua khu rừng dễ dàng như thể đang cắt giấy, Rider bắt đầu phá rừng một cách tàn nhẫn.

Mặc dù thân cây rất dày, lưỡi liềm cực sắc lia trong gió với vận tốc 400km/h phạt ngang chúng chẳng mấy khó khăn. Các thân cây đứt rời tức khắc bị cuốn trở lại và ném vào không khí. Trông như vô số lưỡi dao bằng những mảnh gỗ – một cơn ác mộng hùng vĩ.

Nhìn thấy khung cảnh huỷ diệt khủng khiếp này, Saber bất giác nín thở.

“Chết tiệt…!”

Những thân cây bị cuốn lên không trung rơi như mưa nhắm vào mục tiêu của chúng, hiển nhiên là trút xuống đầu Saber đang đuổi theo phía sau. Đừng nói là bị trúng đòn trực diện––– ở tốc độ này, việc cầm lái lẽ ra đã dễ dàng hơn, giờ đây lại trở thành vấn đề sống còn.

Giảm tốc––– không được. Đây không phải loại thử thách có thể tránh né bằng cách rút lui. Cách duy nhất để sống sót là tiếp tục tiến về phía trước.

Saber hạ quyết tâm, sau khi chuẩn bị tinh thần, cô lao vào cơn mưa cây không chút do dự.

Những thân cây ào xuống mặt đất như tuyết lở. Chiếc V-MAX luồn lách về phía trước như một con rắn, xuyên qua khoảng không chật hẹp. Saber cho rằng dùng phanh là vô cùng ngu ngốc, nên cô không những không giảm tốc độ mà còn tăng tốc, lợi dụng động lượng làm cho bánh trước nảy lên khỏi mặt đất, chỉ giữ thăng bằng nhờ bánh sau và trình diễn một màn mạo hiểm tuyệt hảo khi điều khiển mô-tô chỉ bằng ma thuật. Vũ điệu bốc đầu tuyệt đẹp khiến Waver há hốc mồm quên cả sợ hãi, Rider cũng nở một nụ cười hài lòng.

“Hahahahaha! Tuyệt vời! Quả nhiên là Vua hiệp sĩ cao quý! Chỉ có cô xứng đáng được ca tụng là bông hoa trên chiến trường!”

Rider cười lớn, khéo léo tiếp tục liệng cỗ xe từ bên này sang bên kia, tiến sát tế vật tiếp theo.

“Ta tới đây––– Sau mưa cây sẽ là mưa đá!”

Lúc này, con mồi của lưỡi liềm là lớp bê tông rắn chắc trên mặt đường. Đá có cấu trúc đặc và độ rắn hơn hẳn thân cây. Ấy thế mà lưỡi liềm vẫn cắt vụn chúng không thương tiếc, hất chúng bay tung toé như mưa, khoá chặt đường đi của Saber.

Chướng ngại chết người bằng đá này nguy hiểm hơn cơn mưa cây rất nhiều. Nhưng––– Saber nhìn thẳng về phía trước, dũng cảm tiến lên, khoé môi chợt nở nụ cười bất bại.

“Vua Chinh Phục, ông coi thường ta rồi!”

Đá nguy hiểm hơn gỗ chỉ khi ta mặc định rằng chúng nhất định sẽ ‘trúng’. Nếu cô có thể né tránh tất cả thì dù mưa đạn hay hoả tiễn cũng chẳng khác gì. Saber giao phó hy vọng chiến thắng cuối cùng vào chiếc V-MAX cô nhất mực tin tưởng, khéo léo lách qua khoảng trống giữa những tảng bê tông và đá.

Mặt khác, do phải kéo lê những lưỡi liềm lớn trên mặt đường, chiến xa của Rider đã mất khả năng tăng tốc. Bê tông khó cắt hơn thân gỗ rất nhiều và gây cản trở cho hai con bò thần, một yếu tố không thể bỏ qua.

Giác quan thứ sáu mách bảo Saber rằng cơ hội ngàn vàng để giành chiến thắng sắp đến. Kể từ giây phút này, ưu tiên hàng đầu là phải an toàn vượt qua những chướng ngại kế tiếp. Chắc chắn sẽ có cơ hội để lật ngược tình thế––– Một mảng bê tông lớn trồi lên ngáng đường chiếc V-MAX. Phiến đá lớn, kích thước mỗi bề hơn hai mét, hệt như một bức tường sừng sững.

Đối mặt với con đường bị chặn phía trước, ánh mắt của Saber vẫn không hề nao núng. Vừa lái chiếc V-MAX xông lên, cô vừa thi triển Phong Vương Kết Giới trên diện rộng.

“Haaaaa–––”

Cùng với tiếng thét lớn, khối khí áp, có xung lượng đánh bật cả thiên binh vạn mã và được ma lực giải phóng ra hỗ trợ, giáng mạnh xuống đỉnh phiến đá. Khối đá trông nặng ít nhất vài tấn bị đánh văng dễ dàng. Việc một cô gái trẻ thực hiện được kỳ công như vậy quả thật thách thức mọi định luật vật lý, đó là năng lực thần thánh thượng đẳng chỉ Servent có thể sở hữu.
Quay vun vút trong không trung, các tảng đá lao về phía trước theo quỹ đạo parabol chết người, nhằm ngay cỗ chiến xa. Nghe tiếng hét kinh hoàng của Waver, Rider quay đầu lại. Giơ cao thanh gươm, ông trừng mắt nhìn tảng đá đang bay trên đầu mình.
“AAAAAAAAA!”
Như thể muốn nói ‘Đọ về sức mạnh thì chắc chắn ta không thua cô đâu’, Rider chém mạnh thanh gươm đồng vào phiến đá. Phiến đá càng xoay tròn dữ dội hơn và đổi quỹ đạo một lần nữa. Cuối cùng nó rơi xuống như một chiếc boomerang, cắm chặt vào mặt đường phía sau cỗ chiến xa.
Toàn thân Saber như có luồng điện chạy qua bởi thứ cô vừa ‘nhìn thấy’.
Mảng bê tông găm chéo xuống mặt đường rải nhựa––– mặt nhẵn hướng lên trên, tạo với mặt đất một góc xấp xỉ ba mươi độ. Đó hệt như chiếc chìa khoá mở ra cánh cửa chiến thắng.
“Chính lúc này–––”
Bên dưới ngón cái của bàn tay phải đang nắm chặt tay lái bằng thép là một nút bấm mà cô luôn biết rất rõ. Saber lái chiếc V-MAX bằng kỹ năng phi thường, dù không biết ‘chức năng’, cô biết ‘hiệu ứng’ của nó. Đó là bí mật lớn nhất giấu trong con ngựa thép này, và cũng là con át chủ bài mạnh nhất.
Không chút do dự, Saber ấn vào cái nút đỏ. Con mãnh thú hai bánh phát ra một tiếng gầm dữ dội.
Sâu trong động cơ đang quay cực nhanh, bên trong xilanh đã được nạp đầy nhiên liệu hoá hơi, khí N2O giãn nở ra dưới mức nhiệt 300 độ C, áp lực tạo ra vượt quá giới hạn thông thường. Chiếc V-MAX, đột ngột tăng tốc gấp đôi, lao vụt lên trước, chính là ‘siêu tăng tốc’. Saber tốn khá nhiều sức lực để kiểm soát chiếc xe. Mục tiêu của cô là một cái dốc mới hình thành trước mắt.
Bánh trước đã di chuyển lên tấm bê tông, phát ra những tiếng gầm rú chói tai. Rồi thân xe được đẩy lên, bánh sau quay điên cuồng tạo lực đẩy nó lên không. Ngay cả hạn chế do lực hấp dẫn cũng bị phá vỡ khi chiếc xe bay lên cao–––
Về phía Rider, đây ắt hẳn là một cuộc tấn công không thể lường trước. Mãn nguyện lái Bảo Khí của mình trong không trung, ông không thể ngờ rằng đối thủ lại xuất hiện ngay trên đầu.
Lợi dụng lúc cố chiến xa di chuyển chậm lại, nhờ gia tốc cực lớn từ tuabin tăng áp của V-MAX, và tấm đệm nhảy là một con dốc xuất hiện một cách tình cờ, cuối cùng Saber đã tìm ra điểm yếu của Rider.
Và vị trí ngay trên đầu đối phương này là một trong những lợi thế tuyệt đối khi vung kiếm. Đây đúng là ân huệ mà nữ thần chiến thắng ban tặng cho Anh Linh kiếm sĩ. Giờ chính là thời cơ để đoạt lấy chiến thắng tuyệt đối.
“Rider, chết đi!”
Phong Vương Kết Giới, đã được vung lên như thể cô đánh cược tất cả trong một đòn duy nhất này––– chậm lại trong một thoáng do dự.
Rider giơ kiếm lên đỡ đòn. Hai lưỡi gươm va vào nhau––– xét về sức mạnh, lẽ ra Saber có lợi thế nhờ vị trí của cô, thế nhưng kết quả lại là một trận hoà. Phong Vương Kết Giới không thể phá vỡ thế phòng thủ của Rider, và bị đánh bật ra.
Không còn cơ hội để hai thanh gươm chạm nhau nữa, không phải giữa G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) và chiếc V-MAX đã rơi xuống. Saber tăng tốc nhờ lượng ma lực phát ra tức thời, chật vật duy trì sự cân bằng của chiếc xe trong không trung, khi bánh sau tiếp đất, lực va chạm được lốp cao su và hệ thống giảm xóc triệt tiêu hoàn toàn.
Thế là một cơ hội nắm bắt chiến thắng tuyệt vời đã biến mất trong vô vọng, nhưng lý do khiến Saber khó chịu nằm ở chỗ khác.
“Irisviel không có ở đây?!”
Không thể nhầm lẫn. Trong khoảnh khắc chiếc V-MAX nhảy lên, cô nhìn thấy rõ trên G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) , bên cạnh người lái là Rider, chỉ có Master của ông ta.
Vậy thì, Irisviel, người bị bắt cóc từ nhà kho ngầm, đã đi đâu?
Saber nhấn phanh bằng tất cả sức lực, kìm chiếc xe nặng hơn 300kg lại. Lốp xe trượt trên mặt đất, hãm chuyển động quay vòng dữ dội của hai bánh. Suốt thời gian qua, cô đã đuổi theo Rider không chút do dự, nhưng lúc này bóng đen ngờ vực đang trỗi dậy trong lòng cô.
Chính xác thì đâu là đích đến của Rider?
Từ con đường trong thành phố, ông ta đã di chuyển về hướng Đông, băng qua quốc lộ… Điểm đến cuối cùng của ông ta là khu rừng của nhà Einsbern.
Rider đã từng đi trên con đường này, vác theo một thùng rượu. Sau khi bắt cóc Irisviel, tại sao ông ta lại mặc nhiên chọn đường tẩu thoát dẫn đến lãnh địa của đối phương?
Cảm thấy một cơn ớn lạnh khiến cô bồn chồn không yên, Saber nghiến răng.
Nếu đây không phải là chạy trốn thì sao?
Và làm sao Master của Rider biết về hầm ngầm ở Miyama––– đúng, về cơ bản, anh ta không thể biết được. Trên thực tế, phe Rider không hề hay rằng nhà Einsbern đã đổi địa điểm. Chắc chắn ông ta nghĩ rằng Saber và những người khác vẫn đang ở toà thành trong rừng, nên mới đêm hôm đánh xe đến đó.
Vậy thì ai đã tấn công Maiya và bắt cóc Irisviel ở kho ngầm?
Sự thật vẫn chưa sáng tỏ, song linh cảm mạnh mẽ rằng mình đã bị lừa nhói lên trong tim Saber. Nó làm cô bất an. Trong khi Saber đuổi theo Rider, ngay lúc này đây thủ phạm giả mạo Rider rất có thể vẫn đang tẩu thoát cùng Irisviel.
Cô không thể ở đây thêm một giây phút nào nữa. Cần trở lại Shinto càng nhanh càng tốt để tìm Irisviel.
Tuy nhiên––– dù cân nhắc như vậy là hoàn toàn chính xác, Saber không rời đi. Một luồng không khí căng thẳng bao trùm cô, như trận cuồng phong cuộn lên báo hiệu cơn bão. Không một hành động thừa thãi, cô chú mục vào mối nguy hiểm trước mắt, thủ thế và chuẩn bị tung hết sức bất cứ lúc nào.
Cách đó khoảng một trăm mét, chiến xa của Rider cũng chậm dần rồi dừng hẳn. Và nó cũng đã đổi hướng, mặt đối mặt với Saber. Suốt thời gian qua, cỗ xe luôn tiến về phía trước và cho Saber hít bụi, nhưng giờ đây nó thật sự đã quay lại, những cặp mắt của hai con bò thần, cũng như chủ nhân Vua Chinh Phục của chúng, tràn ngập niềm vui chiến trận, ông nhìn xuống Saber đầy hứng thú.
Chẳng cần phải đoán già đoán non gì. Ý định của Rider cực kỳ rõ ràng––– ông ta muốn đọ sức.
Trong mắt ông không mảy may vương bóng đen lường gạt hay mưu mô, ông thực sự đã sẵn sàng. Nộ khí trong mắt vị Vua Chinh Phục minh chứng cho sức mạnh của ông và tuyên bố rằng ‘Cô đâm ta thế nào, ta sẽ đáp trả đúng như thế.’
Nếu Rider đi về hướng Đông vì muốn thách thức Saber, vậy thì tình huống của ông rất khác với Saber, người bị đặt bẫy. Ông sẽ không phản đối cuộc đấu này.
Chính vì thế, nếu cô bỏ qua vấn đề với Rider và trở về thành phố Fuyuki, nghĩa là cô rất có thể sẽ bị Rider tấn công từ phía sau mà hoàn toàn không hề phòng bị.
Lúc này cô chỉ có thể lập tức đưa ra một quyết định––– đó là khoảnh khắc không có bất cứ khả năng nào để lựa chọn, mà cô phải chọn lựa thật nhanh.
Đôi tay bé nhỏ nắm chắc chuôi kiếm thình lình xiết chặt.
Waver co cụp lại trên ghế lái của G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân), cậu có thể cảm thấy tinh thần chiến đấu của Rider đứng cạnh mình đã đạt tới đỉnh điểm.
Đích ngắm của Vua Chinh Phục đang hiện hữu ngay trước mặt ông, cách chừng một trăm mét: Saber, lái chiếc mô-tô lớn, đang nhìn về hướng này với vẻ mặt nghiêm trọng.
Cô ta đã hăng hái đuổi theo Rider từ Shinto tới đây, tại sao đột nhiên bỏ cuộc? Nhưng Rider, khi thấy kẻ săn đuổi dừng lại, không chớp thời cơ thoát đi và gia tăng khoảng cách mà lập tức quay cỗ chiến xa, hãm nó lại, tỏ ý muốn đối đầu trực diện. Cũng là chuyện tất nhiên thôi. Bởi vì quyết đấu với Saber đã là ý định của Rider ngay từ đầu. Nếu một bên từ bỏ cuộc rượt đuổi, vậy thì bên kia cần phải nắm lấy thế chủ động.
Nhưng––– mặc dù Waver chưa chín chắn lắm, cậu vẫn gánh vác gánh nặng của một Master. Cảm thấy bồn chồn khó chịu, cậu không thể làm gì khác ngoài cắn môi.
Khoảng cách này, và vị trí này, tất cả đều bất lợi.
Bảo Khí của Saber đã đoạt mạng Caster ở sông Mion––– từ khi chứng kiến E x c a l i b u r  (Ước Thúc Thắng Lợi Kiếm), ‘Thanh kiếm hứa hẹn chiến thắng’, cục diện trận đấu trước mắt cậu hiện ra rõ mồn một. Đây là con đường thẳng không một chướng ngại. Không cần lo người vô tội bị vạ lây. Cả hai phe đều bất động, chăm chú quan sát lẫn nhau––– rõ ràng tình trạng hiện tại là điều kiện đặc biệt ưu thế cho Bảo Khí của Saber.
Những chi tiết nhỏ quan trọng này không qua khỏi mắt kẻ chinh chiến lão luyện như Rider. Ông cũng từng chứng kiến sức mạnh Bảo Khí của Saber ở sông Mion. Dù quyết định của ông thường dựa trên cảm xúc hơn là lý lẽ, nhưng bàn về chiến thuật quân sự, Servant này chắc chắn sẽ không xét đoán lầm.
Nếu vào lúc này khả năng di chuyển của G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) được triển khai hết mức, có thể sẽ tránh giao tranh được một thời gian. Nhưng vì một lý do nào đó, Rider đã từ bỏ cơ hội thoát thân và chọn đấu tay đôi với Saber.
“Ê, này, Rider…”
“Ừm. Với cậu, Master của ta, ta cũng phải nói cho ra lẽ.”
Như thể nhìn thấu sự nghi ngờ của Waver, Rider không nén được nụ cười. Tuy nhiên, ông vẫn không rời mắt khỏi Saber trong khi nói với chàng trai đứng bên cạnh.
“Từ giờ trở đi, ta từ bỏ tham vọng đoạt được Chén Thánh. Ta sẽ đánh một canh bạc lớn. Nếu cậu muốn sử dụng Lệnh Chú, nên thực hiện luôn nhỉ?”
Biết rõ tính cách cao ngạo của Rider, cậu có thể hiểu được ý định của ông.
Một Master sáng suốt tất nhiên sẽ dùng sức mạnh của Lệnh Chú để ngăn ông ta lại, bản thân vị Servant cũng rõ điều này, nhưng ông ta vẫn muốn liều mạng. Là vậy sao?
“Ông… Ông sẽ chủ động tấn công thật ư? Từ hướng này? Lao thẳng đến?”
“Thanh quang kiếm chúng ta nhìn thấy bên bờ sông. Khi Saber vào thế và chuẩn bị xuất chiêu, hãy xem G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) của ta có thể sử dụng quãng thời gian đó để thu hẹp khoảng cách không. Đó là chuyện duy nhất phải bàn cãi.”
Biểu cảm của Waver biến đổi dữ dội, cậu bắt đầu tính toán lại khoảng cách giữa hai phe.
Có lẽ chỉ vừa kịp. Quá nguy hiểm.
Nhớ lại khoảng thời gian cần có để Saber kích hoạt Bảo Khí và so sánh với khả năng tăng tốc của Bảo Khí Rider sở hữu… Dù nhìn từ góc độ nào, rất khó dự đoán kết quả cuối cùng. Khoảng cách mà hai bên thách thức nhau không thể nói trước được điều gì.
“… Ông chắc thắng không? Rider?”
“À, năm phần.”
Vua Chinh Phục đáp lời với vẻ trang nghiêm, nhưng giọng điệu lại rất nhàn nhã. Đối với một vị vua từng thống lĩnh quân đội, con số đó nghe không được lạc quan cho lắm.
Nếu cơ may chiến thắng là một nửa, khả năng thất bại cũng là một nửa. Nực cười hệt như tung đồng xu để xác định sống chết. Loại chuyện này hoàn toàn không đáng được gọi là ‘chiến thuật’. Nếu buộc phải đặt tên, chỉ có thể gọi nó là ‘trò cờ bạc đánh cược mạng sống’. Chỉ khi lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan, người ta mới hành động ngu ngốc như thế.
“Tại sao ông muốn… hành động vô trách nhiệm như vậy?”
“Chính bởi nó là hành động vô trách nhiệm, thế đấy.”
Vị Servant nhẹ nhàng nói, nở nụ cười đầy sát khí, mắt ông tràn ngập niềm tin chiến thắng––– trong khi một mực hướng đến tương lai mờ mịt mà ông chỉ đảm bảo được năm mươi phần trăm.
“Nếu thách đấu với những điều kiện ngang bằng thế này, kẻ thua cuộc sẽ tuyệt đối tâm phục khẩu phục. Chính là ‘đánh bại hoàn toàn’. Thật tình ta không nghĩ rằng thanh kiếm của cô nàng luôn khoe khoang sự thông thái kia có thể hạ bệ ta. Nếu ta đánh bại cô ta theo cách đó, có lẽ lần này cô ta sẽ kinh hãi trước sự yếu kém của mình, và chấp thuận phục tùng ta.”
“…”
Waver nhăn mặt và thở dài. Biết nói gì đây chứ.
Rốt cục, tất cả chỉ có thế. Họ coi trọng những cuộc đấu minh bạch và cởi mở với tư cách là Anh Linh thậm chí còn hơn cả cuộc chiến xoay quanh Chén Thánh.
“… Ông… muốn đánh bại Saber đến mức sẵn lòng làm thế ư?”
“Hừm, quả thật ta rất muốn.”
Rider gật đầu không chút do dự.
“Trên chiến trường, cô ta chính là một vì tinh tú chốn trần gian. Thay vì để mặc cô ta diễn trò hề về việc có thực sự là một vị vua lý tưởng hay không, tốt hơn là ban cho cô ta ánh hào quang thực thụ với tư cách thuộc hạ của ta.”
Vị vua chuyên quyền này đã đánh bại vô số quý tộc và tướng lĩnh. Thờ ơ trước sức mạnh và của cải của họ, ông ta có được ‘linh hồn’.
Chính bởi lý do này, người đời gọi ông là Vua Chinh Phục.
Không giết chết, cũng không khinh thường, ông khuất phục một kẻ thù với đầy đủ năng lực của hắn––– đây chính là điều ông cho là chiến thắng đích thực.
Một kẻ chỉ dựa vào Chén Thánh để kết nối và lập giao ước, thì có quyền gì mà phán xét đúng sai?
“… Thôi bỏ đi, Rider. Nếu ông có thể thắng bằng cách của mình thì cũng không sao cả.”
Waver đã bỏ cuộc, bực bội thở hắt ra, cậu buông một câu.
Không phải là cố liều cho trót. Với Rider, đã hồi phục ma lực sau một ngày nghỉ ngơi, đây là thời cơ ngàn năm có một để thách đấu. Không ai có thể bảo đảm rằng tình trạng thể lực của ông có thể tốt hơn thế này trong lần tiếp theo đọ sức với Saber.
Vậy thì, thay vì tin vào con số phần trăm chiến thắng, cậu nên đặt cược vào tinh thần chiến đấu của Rider.
So với việc cố xoa dịu vị Vua Chinh Phục bằng lý lẽ, tốt hơn là để ông ta tự biên tự diễn trên đất của mình––– chính nhân cách siêu việt không sợ trời không sợ đất này sẽ là thứ tạo nên cơ hội mà người ta có thể đặt lòng tin vào.
Waver tỏ ra rất nghiêm túc, như thể cậu nói ra những lý do này để tự thuyết phục mình. Rider vẫn giữ nụ cười tự tin.
“Hừm hừm, nhóc, cậu có vẻ bắt đầu hiểu ra khái niệm ‘bá chủ’ rồi đấy.”
Sự tự tin của ông không hề hão huyền. Dù ông nói đây là một canh bạc lớn, tự thân Rider vẫn tin tưởng tuyệt đối vào chiến thắng.
T o…P h i l o t i m o (ánh hào quang ở bên kia thế giới) — Chinh phạt!

V i a E x p u g n a t i o (Viễn Bạo Chế Bá)!!”
Khi tên thật được xướng lên, cỗ chiến xa bị đôi bò thần cuốn đi đột ngột bùng ra những tia sấm sét. Tiếng be be đường bệ của đôi bò bị Berserker giẫm đạp lên ở trận chiến đầu tiên không thể so sánh với cảnh tượng này.
“–Gió hãy nổi lên!”
Nhìn thấy đối thủ lao tới, Saber cũng gấp gáp đặt thanh kiếm của mình dưới sự bảo vệ của áp suất không khí.
Khuấy động lên một trận bão lốc, ánh sáng hoàng kim toả chiếu rực rỡ như thể phô trương vương đạo của vị hiệp sĩ, ma lực liên tục cuộn xoáy.
“AAAALaLaLaLaLaie!!”
Hoà cùng tiếng gầm của Rider, đôi bò dằn mạnh một bước xuống nền đường nhựa, và rồi bộ móng chẽ đôi của chúng phóng về phía trước như những cơn sóng thần cuồng nộ. Waver, mặc dù choáng ngợp trước sự dũng mãnh đó, vẫn gắng gượng mở to mắt để không ngất xỉu như lần trước. Trước mặt là Bảo Khí công thành cực mạnh sắp được Saber tung ra, để dành thế chủ động, Rider lao tới như thể mạng sống của ông phụ thuộc vào đó, quyết không bỏ lỡ một cơ hội đánh bại Saber.
Đòn tấn công trực diện của Vua Chinh Phục khiến Saber thoáng rùng mình. Khoảng cách một trăm mét, dưới tốc độ của bò thần, lập tức giảm về không. Trong nháy mắt, sức mạnh của G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) hiện ra ngay trước mắt cô.
Nếu chuôi thanh kiếm báu vẫn nằm trong tay cô, chắc chắn cô sẽ chiến thắng. Đối mặt với vầng kim quang của Rider, cô chỉ có thể thốt ra một điều, một cái tên.
E x (Ước Thúc)
Vào khoảnh khắc khối sấm sét như vũ bão sắp sửa giáng xuống thân hình bé nhỏ của Saber –
C a l i b u r (Thắng Lợi Kiếm)!”
Ánh chớp chói loà, tựa muôn vàn vệt sao chổi rực rỡ, khiến màn đêm rực sáng như giữa ban ngày.
“–––ư!”
Chúng làm Waver loá mắt, cuốn phăng tầm nhìn của cậu, và cậu buộc phải quay mặt đi––– giữa đòn công kích cực mạnh ấy, cậu bình tĩnh nghiền ngẫm và nhận ra một điều.
Chính cậu đã chứng kiến ánh sáng từ Bảo Khí của Saber, và thế nghĩa là… kết quả, trước khi G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) hoàn thành bước cuối cùng, vị Vua Hiệp Sĩ đã khởi động đòn tấn công của cô.
Dù vậy, cảm giác về cánh tay rắn chắc vòng quanh vai cậu vẫn không biến mất.
Nhận thức được thất bại của bản thân cho thấy thực tế là người đó vẫn sống sót và tỉnh táo.
Waver len lén mở mắt ra và nhìn thấy tình trạng đáng sợ của chiến trường. Do đòn đánh của E x c a l i b u r (Ước Thúc Thắng Lợi Kiếm), mặt đường cháy rụi ngay lập tức, đến cả khu rừng cách đó một quãng cũng hoá thành tro bụi. Con đường sứt sẹo nham nhở chỉ còn là một đường thẳng chạy dài đơn điệu. Nhựa đường nóng chảy toả ra mùi hôi thối cực kỳ gắt. Waver tưởng như thân thể cậu đang trôi bồng bềnh vào vũ trụ… không, vắt vẻo trên vai một người đàn ông lực lưỡng. Người đã mang chàng Master trẻ tuổi như một túi đồ nhỏ––– chẳng cần phải nói cũng biết.
“Ây dà… chúng ta thua rồi.”
Rider nhẹ giọng nói, dường như hối hận sâu sắc. Nhưng xét tình cảnh hiện giờ, câu đó đã nói giảm nói tránh hơi bị nhiều.
Có vẻ Rider cũng không bị thương. Tuy thế, cỗ chiến xa ông cưỡi cũng như hai con bò thần đã biến mất không dấu vết. Bảo Khí G o r d i u s W h e e l (Thần Uy Xa Luân) đã hứng chịu E x c a l i b u r  (Ước Thúc Thắng Lợi Kiếm), nên cũng như con thuỷ quái của Caster, đã ‘đi về miền cực lạc’, không để lại một hạt bụi nào.
Vào khoảnh khắc ngấp nghé ngưỡng cửa chết chóc, Rider, ý thức được thất bại của mình, đã nhanh nhẹn túm lấy Waver trong chiến xa và thoát khỏi Bảo Khí công thành trong gang tấc. Thực sự có thể nói rằng hai người đã đánh lừa được thần chết. Nhưng cái giá phải trả rất đắt. Cỗ chiến xa bay, được Rider sử dụng làm vũ khí chủ lực suốt thời gian qua, cuối cùng đã tan thành mây khói.
Nhưng mọi thứ vẫn chưa kết thúc––– bằng ý chí chiến đấu, Waver ngay lập tức xua đi cảm giác bực bội vì thua cuộc. Dù G o r d i u s W h e e lThần Uy Xa Luân mất đi, Vua Chinh Phục vẫn còn một con át chủ bài thực sự.
“Rider! I o n i a n H e t a i r o iVương Quân Thế–––“
Hướng về phía Waver vừa thốt lên như vậy, Rider khẽ khàng nhưng kiên quyết lắc đầu. Vị Vua Chinh Phục dường như không có ý định gạt bỏ kế hoạch định trước cho nửa cuối cuộc chiến mà ông đã nghĩ ra trong khi tĩnh dưỡng. Nếu đối thủ là Saber, dùng cỗ xe là tốt nhất. Cần phải giữ gìn quân đoàn chỉ có thể triệu hồi một lần cho trận đấu với Archer về sau.
Nhưng bất kể Rider có hùng mạnh và không muốn thừa nhận thất bại tới mức nào, một trận đọ kiếm là lợi thế tuyệt đối cho Saber. Tuy vóc dáng hai người cực kỳ khác biệt, đây vẫn là cuộc chiến giữa các Servant thượng đẳng. Saber trông mỏng manh, nhưng cô có kỹ năng chiến đấu kinh người, từ lúc giáp chiến tới nay, Waver đã thừa biết điều đó.
Rider tất nhiên hiểu rất rõ sức mạnh của cô. Nhưng vị Vua Chinh Phục chẳng có vẻ gì là sợ hãi, ông đã không chút do dự vung kiếm đọ sức với cô một cách minh bạch bằng tinh thần thượng võ.
Trong cuộc đấu mắt tưởng như bất phân thắng bại này, người thua là Saber.
Cô tra thanh kiếm được cuồng phong bao phủ vào vỏ, rồi nhấn ga và đảo bánh sau một vòng, quay lưng bỏ đi.
Saber không hề để lộ cho Rider thấy điểm yếu của cô. Trong lúc di chuyển bánh sau, cô đồng thời tăng tốc rất nhanh, bỏ lại đằng sau tiếng ống xả gầm rú và phóng vụt về hướng Thành phố Fuyuki chỉ trong một hơi thở.
Đối với Rider và Waver, chuyện hoàn toàn ngoài dự tính. Lúc này Saber cần nhanh chóng tìm ra Irisviel, không có thời gian phân cao thấp với Rider. Cô cần tìm ra thủ phạm đã đánh bẫy cô với Rider và giành lại Irisviel từ tay hắn. Vì mục tiêu này, cô phải rút lui càng sớm càng tốt, dù điều đó nghĩa là phải từ bỏ cuộc đấu với Rider.
Trong nháy mắt cô đã khuất khỏi tầm nhìn, chỉ còn tiếng gầm rú của chiếc mô-tô đang lao đi. Waver cùng Rider há hốc mồm, lắng nghe tiếng xe xa dần. Rider, chăm chú vào âm thanh ống xả phát ra, gật gù tỏ vẻ thông hiểu.
“Mô-tô à… Đúng là thứ tốt đấy.”
“–––Ông, thua rồi mà chỉ nói được vậy sao?”
Sau trận chiến, mọi sức mạnh đã rơi tuột khỏi cơ thể Waver. Đang giận dữ hạch hỏi Rider, thình lình cậu nhận ra một vấn đề nghiêm trọng và choáng váng.
“Này, Rider… Chúng ta trở về kiểu gì?”
“À thì, đi xe hăng cải thôi.”
“… Vậy ha.”
Trong bóng tối, Waver hướng về Shinto đã lên đèn phía xa, và thở dài nặng nề.

Fate/Zero – Quyển 4, chương 6

Emiya Kiritsugu rất nhạy cảm với “mùi” của sự chết chóc.

Có lẽ là do ông đã chứng kiến cái chết của người khác nhiều lần. Cái chết không thể nhìn thấy…và cũng không thể ngửi được. Tuy nhiên, ông có thể cảm nhận sự im lặng của một thứ nào đó khi mà nguồn gốc của sự sống đang mất dần.

Thời điểm ông “tận hưởng” điều đó cũng là khi ông nhìn kẻ đó đang chết dần một cách tuyệt vọng.

Cho nên, sự tuyệt vọng càng dâng cao khi ông đứng trước căn cứ dưới lòng đất mà ông đã sắp xếp cho Irisvile và Saber.

Chắc chắn là ông sẽ chứng kiến sự ra đi của một người nữa..tại nơi này. Giữ chặt khẩu súng bên hông, ông cẩn thận lẻn vào căn cứ và trông thấy cánh cửa sắt đã bị đập nát. Không hề có sát khí hoặc mối đe doạ nào ở đây. Chỉ có mùi của không khí hoà với mùi máu, sự tưng bừng của một cuộc chiến đã hạ dần. Chỉ có hình ảnh của một ngườ đang thu mình trên sàn nhà, âm thanh của hơi thở quá mờ nhạt để nghe thấy. Sự bất động và cơ thể đang lạnh dần đó khiến ông ngạc nhiên.

Bởi vì ông đã biết điều này sớm muộn gì cũng xảy ra.

Ông đã từng cứu mạng người phụ nữ này, nhưng trái tim của cô đã chết sau lần đầu gặp Kiritsugu. Người phụ nữ này, người đã may mắn sống sót sau lễ rửa tội với đạn và thuốc súng của cô. Cô không cảm thấy hạnh phúc mà chỉ băn khoăn về sự may mắn của mình.

Cô không hề cảm thấy vui khi cô lại được sống như một con người.

Cho nên cô đã trả lại mạng sống này cho người đã ban tặng cô cuộc đời này- đôi mắt khép lại, có vẻ như cô đã nói điều đó với Kiritsugu. Đó là cuộc gặp gỡ mười một năm trước.

Kiritsugu cũng đã chấp nhận nhận định của mình.

Ông đã đoán được rằng người phụ nữ này sẽ chết trong tương lai gần. Kiritsugu đã giết cha và mẹ nuôi của ông bằng chính đôi tay của mình. Cho nên ông biết rõ người phụ nữ đứng cạnh ông cũng sẽ sớm bước vào một con đường không lối thoát.

Nhưng cô cũng chẳng hơn thứ công cụ đối với ông. Sẽ có một ngày, cô mất đi giá trị lợi dụng và bị loại bỏ, thì việc cô hi sinh để cứu một hay hai mạng người là một kết thúc có hậu…. Kiritsugu tặng cho cô một cái tên, quốc tịch, truyền lại cho cô mọi kĩ năng và kiến thức của ông. Đó là khởi đầu của Hisau Maiya, người mà số phận cuối cùng cũng đã được định đoạt.

Vì vậy, ông không phải thở dài hay cảm thấy mất mát bởi vì đây là điều hợp lí, một kết thúc mà không có gì phải nghi ngờ.

Ông ôm thi thể Maiya vào vòng tay. Cô chậm chạp mở mắt ra. Ánh mắt vô định của cô cứ mải nhìn khắp nơi đến khi cô nhận ra khuôn mặt của Kiritsugu.

“…..”

Không biết phải nói gì với cô, Kiritsugu cắn môi, trong lòng ông rối bời.

Lời cảm ơn hay động viên sẽ chẳng có ích gì. Nếu như phải nói gì với cô lúc này, thì ông chỉ có thể cho cô biết rằng cô sẽ bỏ mạng tại đây. Nói với cô rằng không còn nhiệm vụ nào nữa nên không cần phải lo lắng. Nếu ông chỉ đơn giản xem cô như thứ công cụ thì ông sẽ dễ dàng nói với cô như vậy.

“…..”

Nhưng ông lại chẳng nói được gì, âm thanh không thể thoát ra khỏi cổ họng của ông, môi thì cứ ngậm chặt lại.
“Không…ngài không thể khóc….”

Kiritsugu không nhận ra những giọt nước mắt ấy đến khi Maiya chỉ ra.

“Ngài…hãy để dành…những giọt nước mắt đó…cho phu nhân….nếu ngài khóc ở đây…. Không được…ngài rất là yếu đuối. Nếu ngài khóc….vào lúc này…không thể nào….”

“Tôi….”

Có lẽ ông đã gây ra lỗi lầm nào đó, bây giờ kiritsugu chỉ cảm thấy như vậy. Hoạt động như thứ công cụ, cho rằng đó là số phận của cô sẽ kết thúc như vậy là điều hoàn toàn chấp nhận được- giống như những gì ông đã làm. Kiritsugu đã luôn nghĩ như vậy về Maiya.

Thế nhưng, cô lời nói những đó lại nói với một kẻ như Kỉitsugu. Không lẽ có một con đường khác cho cô ấy.

“Sáng nay. Cuối cùng….ngài đã trở về với Kiritsugu trong quá khứ… Nếu…nếu như ngài dao động vì …một điều nhỏ nhặt…như…thế này… Đừng!!..”

“…..”

Đúng vậy. Tại nơi này,ông đã chấp nhận một người phụ nữ khác và nhận ra con đường ông phải đi.

Nếu như ông bị dao động vào lúc này, lí tưởng của ông sẽ bị đảo lộn. Đây là cách chính xác giúp ông đoạt lấy một phép lạ.

Ông tự nhắc nhở bản thân. Đã quá nửa ngày….

“Maiya, hãy yên nghỉ…”

Kiritsugu nói với Maiya bằng cái giọng lạnh lùng trong khi ông nhìn vào đôi mắt đang dần mất đi ánh sáng của cô.

“Maiya,hãy tin ở Saber. Nhiệm vụ của cô…..đã hoàn thành.”

Cho dù cô ấy – cỗ máy mà Kiritsugu cần nó phải hoạt động thật chính xác – đã hết giá trị. Ông vẫn hứa với cô như vậy.

Cho nên cô không phải gắng gượng nữa. Không cần chịu đau khổ nữa, không phải suy nghĩ gì nữa, cô ấy có thể ra đi.

Nghe lời tuyên bố lạnh lùng đó, Maiya nhẹ nhàng gật đầu.

“Maiya…”

Không có câu trả lời.

Không có lời nói nào đáp lại. Vật ở trên tay Kiritsugu bây giờ chỉ là một cái xác lạnh cóng.

♦ ♦ ♦
Rider bỏ trốn theo hướng về Shinto.

Saber thấy lưng của Rider xuất hiện trên tầng thượng của những toà nhà và trên biển quảng cáo, có lẽ ông ta đã chuyển từ vị trí này sang vị trí khác liên tục. Ông ta có vẻ như không hề che giấu sự di chuyển của mình cho dù Saber đang đuổi theo.

Nếu quả đúng như vậy thì ông ta đã quá xem thường kẻ thù của mình.

Van tiết lưu đã mở và tinh thần chiến đấu đang dần dâng cao của Saber, con mãnh thú hai bánh kia phát ra một “tiếng gầm” dữ tợn.

Chiếc xe động cơ 1400 phân phối kiểu số V có bốn xi-lanh trông hệt như một con sư tử sắt – “tiếng gầm” hung bạo của loài dã thú như xe nát sự yên tĩnh của màn đêm.

Với công cụ hai bánh mà Kiritsugu đã chuẩn bị, Saber có thể dùng hết kĩ năng Khinh Kị (Riding) của mình.

So với khi “kiểm soát” xe ô tô khi mà bị hạn chế bởi đai an toàn, thì sẽ dễ dàng điều khiên hơn nếu người lái cũng là một phần của chiếc xe. Kĩ năng Khinh kị của một Servant có thể được “tối ưa hoá” nhờ “cưỡi” một chiếc xe máy trong khi cơ thể của người lái tiếp xúc với các yếu tố bên ngoài.

Điều kiện tiên quyết là phải được thực hiện bởi một Servant, một thực thể đẳng cấp hơn người thường, cho nên sẽ loại bỏ được các giới hạn của xe so với trình độ bình thường. Ban đầu, chiếc xe được thiết kế rất lố bịch và không thực tế, nhưng Kiritsugu đã biến thiết kế đó thành hiện thực.

Cơ bản đó là một chiếc xe Yamaha V-Max, cỗ máy uy lực nhất thế giới. Các đặc tính cơ bản của động cơ 1200 phân phối, động cơ 140 mã lực mà đã có thể hoạt động gần giới hạn của nó nay được nâng cấp một lần nữa. Hơn nữa, hệ thống đã hoàn toàn được gia cố làm cho nó có thể đạt đến tốc độ 250 mã lực. Đó chính là con ngựa Saber đang cưỡi.
Tuy nhiên có thể chiếc xe hai bánh này sẽ không hoạt động đúng cách. Ở các bánh xe đã có quá nhiều momen xoắn nên không tạo đủ ma sát với mặt đường, nó chỉ có thể xoay tròn. Bánh trước có thể “nhảy dựng lên” khi dùng phanh và người lái có thể bị văng khỏi xe ngay lập tức. Nhưng Saber đã điều khiển con chiến mã này một cách hoàn hảo trong lúc phóng xe ở tốc độ cao.bí quyết điều khiển đã có sẵn nhờ kĩ năng Khinh Kị mà cô luôn tự hào và nhờ lượng prana của cô truyền cho xe. Prana bùng cháy qua lưng của Saber đẩy nhanh cỗ máy điên cuồng này trong cuộc đua cho nên chiếc xe có thể sử dụng hết công suất và tăng tốc.
Thay vì dùng kĩ năng của mình, đó giống như là sử dụng năng lượng hơn để khống chế con dã thú này. Đối với vóc dáng nhỉ nhắn của Saber, cô chỉ có thể điều khiển cỗ máy nặng khoảng 300kg này, một siêu xe được nâng cấp gây nhiều áp lực trên cách điều khiển. Saber đang ngồi trên phần đầu của động cơ được bao phủ bởi một turbopump bằng nhựa, và phải chịu sự rung động lớn khi động cơ hoạt động. Tư thế đó giống như một đứa trẻ tuyệt vọng bám vào con dã thú. Thế nhưng cảm giác lái xe lại khiến cho Saber cảm thấy thích thú và mạnh mẽ hơn.
Cảm giác khi lái chiếc Mercedes – Benz chẳng là gì so với cảm giác hiện tại.
Điều này khiến cô cảm thấy như bản thân đang thực sự cưỡi ngựa. Mặc dù cô đang cưỡi một vật được tạo ra bởi công nghệ hiện đại, nhưng tinh thần của cô như trở về chiến trường xưa kia – cô đã lấy lại được tinh thần hiệp sĩ khi cô cầm cây kiếm của mình và đuổi theo kẻ thù.
“Nếu mình có thể giữ vững tốc độ này, có lẽ….”
Khoảng cách giữa cô và Rider giãn rộng hơn. Đó là sự khác biệt của việc nhảy trên nóc của các toà nhà so với lái xe trên đường.
Tuy nhiên, không có gì phải lo lắng cả bởi vì khả năng của một Servant vượt lên cả V-max về khả năng tăng tốc và tốc độ tối đa. Tuy nhiên con mãnh thú này chỉ hoạt động khi còn nhiên liệu. Nếu như có một cuộc truy đuổi dài thì xe máy sẽ rất tiện lợi.
Các đường phố ở Miyami gây trở ngại lớn cho cuộc truy đuổi này. Hơn nữa V-max vốn được tân trang để đạn đến giới hạn khi tăng tốc, cũng không khác gì những chiếc xe ô tô trong cuộc đua ngắn hoặc đường dài, hầu như không có chức năng nào cả. Tuy nhiên kĩ năng của một Servant có thể phá vỡ các quy luật vật lí của một chiếc xe “không thể cua ở tốc độ cao”. Quy luật đó không là gì đối với cô.
Saber đã hoàn toàn làm chủ được cỗ máy này. Cô không giảm tốc ở khúc cua mà còn mở van tiết lưu và dồn hết mômen xoắn vào bánh sau. Thời điểm bánh trước phóng tới do tăng tốc và khiến cho xe có thể bị quay ngang, Saber dùng prana của mình để cân bằng lại. Việc đó giống như cô đã dùng một đòn mạnh để quay bánh xe.
Rider đã vượt qua sông Mion và đi vào Shinto cho nên cô không thấy bóng dáng của ông ta nữa. Nhưng Saber không hề hoảng loạn, cô nhìn lên màn đêm của bầu trời tìm kiếm một dấu hiệu khác. Rider đã biết là Saber, kẻ đang đuổi theo ông, sẽ không bỏ cuộc dễ dàng. Ông không thể trở lại dạng linh hồn để lẩn trốn – vì Irisviel đang ở trên tay ông. Rider chỉ có hai lựa chọn khi vào Shinto. Một là tìm nơi nào để trốn khỏi sự truy đuổi của Saber, hai là kéo giãn khoảng cách bằng Gordius wheel. Dựa trên tính cách của Rider, Saber tin là ông sẽ chọn cách thứ hai. Vì thế cô không lo về việc mất dấu ông. Bảo khí bay của Rider, Gordius wheel, sẽ hao tổn nhiều prana nên Saber dó thể phát hiên được.
“… Vấn đề là sự bất lợi của mình khi di chuyển trên mặt đất.”.
Sẽ tốt hơn nếu cô đoán được điểm đến ngay khi cô tìm thấy Gordius wheel và đến đó trước ông. Đây không phải là một bài kiểm tra kĩ năng, mà đây là bài kiểm tra sự nhạy bén và kĩ thuật “săn bắt”.
Mọi người chăm chú nhìn chiếc V-Max đang vượt qua các phương tiện khác trước khi tăng tốc. Saber không đoái hoài gì đến cái nhìn của bọn họ mà tập trung vào kẻ thù phía trên. Cô có thể cảm nhận những trở ngại thông qua sự thay đổi của luồng không khí. Cô sẽ không tông trúng ai kể cả khi cô nhắm mắt lại.
“Tìm thấy rồi!”
Các giác quan của Saber, nhạnh bén như một con mãnh thú, đã phát hiện lượng prana hỗn loạn trên bầu trời. Nhử thể để tránh bị chú ý, Gordius wheel không tại ra tiếng ồn từ sấm chớp và tốc độ của nó dường như đang chậm lại. Nhưng cảm giác này chắc chắn là lượng prana hỗn loạn của một Bảo khí.
Vị trí là hướng đông. Có thể ông ta đã lên kế hoạch rời khỏi Fuyuki thông qua
Shinto.
Co rằng vận may đang mỉm cười, Saber khai thác khả năng tăng tốc của xe bằng cách dùng quốc lộ rộng rãi. Sau khi qua cầu và đến con đường có sáu làn xe. Saber mở rộng van tiết lưu hơn nữa để đẩy nhanh tốc độ của V-Max. Do cách lái xe này, tốc kế quay 6000 vòng mỗi phút. Thời điểm đó, động cơ tạo ra một âm thanh đáng kinh ngạc.
Âm thanh tựa như những cơn sóng dữ tợn của động cơ đột nhiên chuyển thành một âm thanh chói tai. Âm thanh càng điên cuồng hơn,mãnh liệt tràn ra,phá tan sự tĩnh mĩnh của màn đêm. Khả năng tăng tốc lúc trước không thể so với hiện tại. Chiếc xe của Saber phi như bay giống hệt một viên đạn, cùng với màn đêm, cảnh tượng này giống như sao chổi rơi.
Đó là thời điểm lượng prana ẩn trong khối sắt đó thức tỉnh. Thiết kế chiếc xe này sử dụng công nghệ hiện đại, cơ chế V-style, thiết kế bốn xi-lanh ngay lập tức hoạt động như thiết kế hai xi-lanh khi giới hạn sự quay vòng của động cơ và tăng lượng khí hút vào để đạt đến tốc độ cực hạn. Đó chính là thiết kế độc đáo của chiếc V-max. Ban đầu, một cỗ máy hai xi-lanh không thể có một cấu trúc như vậy, nhưng thiết kế này đã vượt quá giới hạn của một chiếc xe máy.
Cô phải chịu đựng ma sát của không khí và áp lực của nước trong cơ thể, Saber ngồi trên thân xe với tất cả sức lực của mình-và nở một nụ cười.
Chiếc xe này đã vượt qua các giới hạn của một chiếc xe máy, giới hạn của “cỗ máy của con người”. Đây như là công nghệ của người ngoài hành tinh thông qua công nghệ hiện đại, tiên tiến. Sự cô đơn và đau buồn đó khiến cô đồng cảm.
Chỉ có các thực-thể-không-phải-con-người như Servant mới khiến cỗ máy này thể hiên giá trị thực sự của nó. Chiếc xe này phải dành “sự sống” của nó để Saber lái trong đêm nay.
“Được rồi, ngươi hãy “phi nước đại” đến khi ngươi tự đốt cháy bản thân!”
Saber hét lên trong gió và mở rộng van tiết lưu.
Tốc kế đã đạt đến 300km/h và vẫn dần tăng lên.
Ánh đèn rực rỡ đó dường như không phải là ánh sáng thuộc về mặt đất, nó gần như thắp sáng cả bầu trời.
“Này Rider,cô ta…không thể nào bắt kịp chúng ta đúng không?”
Waver là người đầu tiên nhận ra tình hình và chỉ xuống phía dưới. Rider nhìn xuống và nhướn mày,ngạc nhiên nói :
“Huh, ta đã tự hỏi đó là ai,hoá ra là Saber. Vậy là chúng ta không phải tốn công tìm cô ta….này nhóc, xe máy có thể chạy nhanh như vậy à?”
“Đó là….xe máy?”
Tầm nhìn của Saber chỉ thấy một đốm sáng. Mà chiếc xe đó không giống loại xe mà cậu biết, kể cả khi cậu đã vận dụng hết mức bộ não của mình.
“Không…không thể nào… Tuy nhiên đó lại là điều khả thi nhờ kĩ năng của Saber. Nêu suy luận theo hướng này,có lẽ là….”
“Hmmm,cô ta dám thách thức người hùng mạnh sở hữu danh hiệu Rider như ta à?”
Rider nở một nụ cười đầy thoả mãn.
“Hahaha, điều này thật thú vị. Kể từ khi cô ta đuổi theo chúng ta thì chúng ta không cần phải đi vào khu rừng kì lạ đó nữa… Trong trường hợp này, ta nên đấu với cô ta một trận.”
Rider giật dây yên cương và giảm tốc độ của cỗ chiến xa.
“Này,chúng ta sẽ đáp xuống sao?”
“Ta đổi ý rồi. Ta sẽ đấu với cô nhóc đó và cỗ xe bình thường kia. Vẫn còn một chặng đường dài nếu muốn băng qua khu rừng kia,đúng chứ? Cho nên đây chính là chiến trường phù hợp nhất.”
Thường thì Waver sẽ phàn nàn về việc từ bỏ lợi thế khi ở trên không mà lại đáp xuống mặt đất để rơi vào bẫy của Saber. Nhưng,khi nhớ lại Bảo Khí mà cô ta đã dùng mấy hôm trước, và dựa theo các đặc điểm của Excalibur, thì họ càng ở xa cô, họ càng gặp nhiều nguy hiểm hơn. Se an toàn hơn nếu đánh cận chiến để giảm thiểu sức mạnh từ bảo khí đó.
“Thôi được rồi, nếu ông đã quyết định như vậy thì nhớ cẩn thận đấy.”
“Hahaha, này nhóc, cuối cùng nhóc cũng hiểu được hương vị của chiến trường rồi đấy. Đừng có lo quá. Trong trời đất này, không gì có thể cản trở ta!!”
Thật may là không có phương tiện nào lưu thông ở đấy. Mặc dù con đường núi quanh co này không hẳn là thích hợp cho một cuộc chiến, nhưng họ sẽ không lo về việc đả thương người vô tội.
Gordius wheel đã đáp xuống mặt đất cách Saber khoảng 200m và sẽ ngày càng gần hơn, họ tiếp tục đi trên con đường và chuẩn bị chống đỡ các đòn tấn công từ đối phương.

Fate/Zero – Quyển 4, chương 5

Khi hoàng hôn dần buông xuống, cuộc phục kích của Saber đã trở nên lãng phí. Ý nghĩ đó làm cô khó chịu và hoang mang.
Saber đến Miyami thoả hiệp với Master của Archer, Tohsaka Tokiomi, và rồi đến nơi ở của Glen Mackenzie và vợ của ông ta. Khi nghe tiếng chuông, một bà lão xuất hiện trước mặt cô. Theo lời bà lão thì đứa cháu của bà ta đã ở đây cùng người bạn trong mấy ngày qua. Có vẻ như bà lão đã nhầm tưởng rằng Saber là bạn của Velvet nên đã thật thà kể hết sự thật cho cô mà không hề do dự.
Saber thuyết phục bà lão miêu tả lại vóc dáng và trang phục của 2 người bọn họ. Không còn nghi ngờ gì nữa, đó đúng là Rider và Master của ông ta. Đáng tiếc là cô không hề cảm nhận được sự hiện diện của Servant nào quanh đây.
Theo lời bà lão thì bọn họ đã rời nhà từ sáng đến giờ vẫn chưa về. Có thể là bọn họ đã biết là Saber sẽ tìm đến nơi này nên đã bỏ trốn. Nhưng khó mà tưởng tượng rằng vị Vua Chinh Phục kiêu ngạo kia lại dùng kế sách hèn nhát như vậy.
Bình thường thì khi ông ta muốn giành lấy chiến thắng, chắc chắn ông ta sẽ đối đầu trực tiếp.
Cuối cùng Saber đặt ra giả thuyết rằng việc cô không gặp Rider ở đây chỉ là tình cờ mà thôi. Sau khi từ biệt bà lão, cô quyết định sẽ quan sát nơi này tại một vị trí khá xa ngôi nhà và đợi Rider trở về.
Cô gạt bỏ những điều vừa nghe từ bà lão. Dẫu sao thì hai vợ chồng kia cũng chỉ là nạn nhân bị waver Velvet lừa gạt bằng thuật thôi miên của cậu ta. Hai người đó hoàn toàn là người thường và không hề liên quan đến những sự kiện diễn ra xung quanh họ.
Rider đã tạm đình chiến để cùng các Servant khác ngăn chặn những âm mưu tàn bạo của Caster và sự sụp đổ của thành phố Fuyuki này. Vì thế nên Saber đánh giá vị Vua Chinh Phục là một người sẽ không bao giờ đi ngược lại con đường của một Heroic Spirit thực sự. Sau khi Rider trở về và cảm nhận được sự hiện diện của Saber, chắn chắn ông ta sẽ chọn một nơi rộng rãi và vắng người để tỉ thí với cô.
Không muốn bị chú ý khi cứ đi qua đi lại mãi, cô ngồi chờ ở trạm xe bus gần nhất và quan sát. Nhưng sau vài giờ, Rider vẫn chưa quay trở về.
Cho dù vị trí của cô không thuận lợi cho việc quan sát trực tiếp nhà Mackenzie, nhưng Rider chắc chắn sẽ cảm nhận được sự có mặt của cô khi trở về và nhanh chóng tìm cô. Chắn chắn ông ta sẽ dẫn cô tới một nơi phù hợp cho trận so tài giữa hai Heroic Spirit. Thật là kì lạ, Saber hoà toàn tin tưởng Rider. Cho dù lí tưởng của họ khác nhau, nhưng không thể chối cãi rằng vị Heroic Spirit kia đang hành động hợp lí với niềm tự hào của ông ta. Có lẽ Rider se không bao giờ chọn một kế sách bẩn thỉu nào để không làm vấy bẩn danh dự của bản thân.
Có lẽ Saber xem Rider là đồng minh chứ không phải kẻ thù.
Master của cô – Emiya Kiritsugu – đã để mắt tới Master của Rider với những kế hoạch trái ngượi với mong muốn của cô. Có thể ông ta đã dùng cô như mồi nhử Rider ra ngoài và đang quan sát mọi việc từ xa. Chẳng có gì sai khi Saber nghĩ như vậy. Có thể Kiritsugu nghĩ rằng khi Rider và cô giao chiến, ông ta sẽ nhân cơ hội ám sát Master của Rider. Những ý nghĩ đó làm cho cô cảm thấy mệt mỏi.
Rất có khả năng là Kiritsugu đang dàn xếp một kế hoạch để Master của Berserker và Archer đối đầu với nhau. Điều đó hợp lí với người như ông. Kiritsugu chỉ muốn dành chiến thắng qua những bi kịch chứ không dựa vào Servant của mình. Tất cả chỉ nhằm phục vụ cho mục đích của ông ta : đoạt lấy Chén Thánh.
Đúng là không hề vô lí khi muốn giành chiến thắng bằng cách hợp sức với người mà mình tin tưởng. Nhưng trận đấu giữa cô và Rider, Alexander Đại Đế – Vua Chinh Phục, cô không hề có ý định thoả hiệp.
Nếu như có thể chiến đấu với nhau một cách công bằng – không phải với tư cách là những Servant phải đổ máu vì Chén Thánh, mà là với tư cách của một Heroic Spirit- Saber sẽ không thể tháo bỏ những nút thắt trong tim mình về ước muốn của cô với Chén Thánh trong mấy ngày qua.
Alexander Đại Đế đã thản nhiên nhận bản thân là bạo chúa, và phô diễn sức mạnh hùng tráng của Ionian Hetairoi và tự hào về nó. Nếu cô không thể đánh bại ông ta bằng biểu tượng của vị Vua Hiệp Sĩ, ” Thanh gươm hứa hẹn chiến thắng “, Excalibur, thì vương đạo của cô gái tên Arturia sẽ đổ vỡ rồi lụi tàn.
Bảo khí của Rider có sức mạnh phá huỷ mọi thứ. Kể cả khi Saber đang ở trong tình trạng tốt nhất và sử dụng Bảo Khí trong phạm vi rộng nhất, thì chiến thắng vẫn không ủng hộ cô. Kết quả của cuộc giao tranh giữa một Bảo khí Chống quân với một Bảo khí Diệt thành đã vượt quá tầm hiểu biết của con người. Emiya Kiritsugu chắc chắn sẽ cho đó là hành động ngu ngốc khi phải tốn quá nhiều sức lực cho chiến thắng, ông ta sẽ chọn cách ít tốn kém nhất. Nhưng đối với Saber, Holy war Grail phải là một chiến trường, nơi mà người ta chiến đấu hết mình cho mục đích của bản thân. Kể từ khi có người chỉ trích vương đạo của cô, thì sẽ là sự sỉ nhục khi dùng cách thức đó để giải quyết vấn đề.
Kể cả khi cô đã vững tâm hơn về vương đạo của minh,…thì liệu Chén Thánh có chọn Vua Hiệp Sĩ không ?
Nhưng, nếu mà Kiritsugu can thiệp vào trận đấu của cô như đã làm với Lancer, thì Heaven’s Feel lần này sẽ trở nên vô nghĩa với Saber.
Cho dù việc dùng những cách thức bẩn thỉu đó sẽ giúp cô đi đến cuối cuộc chiến, Saber sẽ không còn xứng đáng để nhận Chén Thánh nữa.
Nếu Rider sử dụng Reality Marble để bảo vệ Master của ông ta trước khi bắt đầu trận đấu thì cuộc chiến sẽ không bị gián đoạn. Nhưng Kiritsugu biết những tuyệt chiêu của Rider. Nếu ông ta dùng mánh khoé nào trước khi Ionian Hetairoi được kích hoạt thì…
Thu mình lại, Saber ngồi xuống và nghiến răng. Cô cảm thấy chán nản khi không thể biết được là Kiritsugu đang suy tính chuyện gì. Cô sắp đối đầu với một kẻ địch cực mạnh nhưng cô vẫn chưa tập trung được toàn bộ sức mạnh, điều đó khiến cô sợ hãi.
Ngọn gió bắc lạnh thấu xương càng trở nên lạnh hơn nhiều lần khiến cô chờ đợi không dễ dàng, và điều này càng làm cho Saber thêm lo âu và hoang mang.
Trong khi Saber đang lo sợ, Kiritsugu đã đến.
Ông ta đang ở trên nóc nhà của một chung cư có sáu tầng bên kia đường, nơi đó cách chỗ cô 800 mét.
Không giống những nơi khác trong toà nhà, nóc của chung cu này được thiết kế một cách kì lạ cho nên không ai nghĩ là người định cư ở đây sẽ sử dụng nó. Tuy nhiên lại khó có thể đi vào nới đó, cho nên không bị bất kì ai ở bên ngoài làm phiền. Không ai có thể thấy ông ở đây sau khi đã trốn đằng xong bế chứa nước, kể cả từ những tầng dưới. Đây chính là địa điểm rất thích hợp cho việc bắn tỉa hay phục kích.
Kể cả mùi của tobacco cũng không thể được nhận ra tại nơi này. Hoà nhịp với con tim chứa đựng sinh khí và năng lượng lấy từ những điếu thuốc- tâm trạng của Kiritsugu lúc này còn nặng nề hơn cả Saber.
Khẩu súng bắn tỉa từ xa được đặt tên cái giá đỡ rồi nhắm thẳng vào cửa trước của nhà Mackenzie.
Kiritsugu còn chuẩn bị một cái ống nhòm có thể quan sát trong một phạm vi rất rộng để quan sát mọi hoại động của Saber kể từ khi ngồi chở ở trạm xe bus.
Quan sát hai đối tượng từ xa mà không hề bị sao nhãng khá là khó khăn, nhưng ông buộc phải làm thế kể từ khi ông không còn được Maiya giúp đỡ. Cô ấy đã không thể bỏ nhiệm vụ của mình khi đảm nhận việc bảo vệ Irisviel, và đã… Cho nên kể từ lúc này, việc ‘săn bắt’ các kẻ thù còn lại là công việc của một mình Kiritsugu mà thôi.
Kiritsugu bắt đầu quan sát nhà Mackenzie sau Saber, ông ta thấy Saber, người có thể cảm nhận sự hiện diện của các Servant, không hề có động tĩnh gì cả, điều đó nói lên rằng Rider không có mặt ở nhà, có lẽ cả Master của hắn ta cũng không có ở nhà. Master của hắn không đủ khả năng để ở nhà một mình trong mọi trường hợp. Nếu như cậu nhóc đó nhận thấy sự xuất hiện của một Servant nào đó đến trước cửa, chắc chắn cậu nhóc đó sẽ triệu hồi Rider.
Kiritsugu khác với Saber, ông ta xem xét tình hình khi mà quân địch không có mặt tại nơi cư trú nghiêm túc hơn cô nhiều. Hai người đó đã rời đi sau ngày mà Kiritsugu khám phá ra nơi ở của gia đình Mackenzie và đến giờ vẫn chưa trở về.
Thời gian chính xác đến mứa không thể cho là ngẫu nhiên được. Dù chưa có chứng cứ nào, nhưng có nhiều khả năng là waver Velvet đã biết được cuộc tấn công của kẻ thù nên đã vội bỏ trốn.
Thế nhưng Kiritsugu vẫn chờ đợi trong hi vọng, nghĩ rằng việc này sẽ đem lại kết quả có ích.
Nếu waver trở về nhà Mackenzie thì ông sẽ cho nổ tung ngôi nhà bằng một quả bom hẹn giờ. Nhưng nếu thật sự hai người bọn họ đang lẩn trốn thì ông phải nhanh chóng tìm một căn cứ mới. Trong trường hợp này, khả năng bọn họ trở về đây là rất thấp. Có vẻ ông không thể dùng cặp vợ chồng gia kia để dụ waver vào bẫy như ông đã dùng Sola làm mồi dụ Kayneath.
Kiritsugu đánh giá cao sự thờ ơ của waver khi chọn căn cứ và việc chọn một ngôi nhà bình thường để làm ‘pháo đài’. So với tam đại gia tộc Khởi tổ và Kayneath, những người xây dựng căn cứ vững chắc mà lại dễ bị tìm thấy, thì việc làm của waver tốt hơn nhiều. Rất khó để kết luận rằng pháp sư đã đưa ra phán xét này sẽ biểu lộ sự đồng cảm với nơi mà anh ta đã ở trong một thời gian dài. Đối với waver, nhà Mackenzie chỉ là con tốt bị bỏ rơi. Việc mất kiên nhẫn trong việc lãng phí thời gian chờ đợi và sự cấm kị trong hành động hấp tấp như hai lưỡi gươm đâm vào tim Kiritsugu.
Mặt khác, ông đã từ bỏ hi vọng rằng waver sẽ trở về, mặt khác, ông vân chưa loại bỏ được khả năng waver rời đi chỉ là ngẫu nhiên. Lí do là ông không tin cậu nhóc pháp sư nhỏ tuổi kia óc thể đi trước Kiritsugu một bước trong thông tin về cuộc chiến.
Ngay từ đầu, Kiritsugu chưa bao giờ xem waver-Master của Rider- như một kẻ thù. Kể cả sau khi tìm hiểu thêm về cậu nhóc, ông chỉ xem cậu là pháp sư thực tập,người mà trở thành Pháp sư nhờ việc đánh cắp bảo vật của Kayneath, và kết luận rằng waver cũng không khác gì những người thường không biết gì về phép thuật.
Tất nhiên, Kiritsugu không phải là hạng người đánh giá thấp khả năng của một người bằng kinh nghiệm của họ. Kiritsugu vẫn còn nhớ mình là một sát thủ máu lạnh kể từ khi ông xuất hiện trong cuộc chiến và không cho rằng bản thân là một ví dụ hiếm thấy.
Nhưng ông đã quan sát waver trên chiến trường nhiều lần. Dựa vào những gì quan sát, rất khó để cho rằng cậu nhóc đó sẽ trở thành một đối thủ mạnh vượt qua cả bản thân ông. Ông vẫn không thể lí giải cảm giác lo lắng của bản thân.
Bỗng nhiên, một cơn đau buốt ở đầu ngón út của Kiritsugu xuất hiện, và lưng ông như cứng lại.
“…?!”
Khi ông bắt đầu huấn luyện Maiya trở thành một sát thủ, ông đã đặt một thần chú lên một phần tóc của Maiya và khắc ấn nó vào phần da của ngón út của ông. Và Maiya cũng đã phong ấn một phần tóc của Kiritsugu vào ngón út của cô. Nếu Magic Circuits của một trong hai người bị ngắt-báo hiệu mạng sống của một người đang mất dần và dẫn đến tử vong- thì những sợi tóc đó trong ngón tay của người kia sẽ cháy, báo cho người kia về mối đe doạ của họ.
Đó là cách dùng trong trường hợp tệ nhất mà họ không thể liên lạc qua vô tuyến hay familiar (sứ ma,linh thú). Đó như là dấu hiệu báo cho người kia biết rằng : “Đã quá muộn rồi….”. Việc ấn phép này hoạt động ngay lúc này, liệu đã có chuyện gì xảy ra…?
Trước khi dao động, một người chắc chắn đang ở trong tình thế cực kì khó khăn. Kiritsugu huy động tất cả tế bào nơ-ron và phân tích tình hình cũng như xây dựng một kế hoạch để đối phó. Maiya đang ở bờ vực của cái chết-và điều này cũng có nghĩa là Ỉisviel,người đang trốn ở căn cứ trong lòng đất cũng đang gặp nguy hiểm. Những việc này xảy ra quá dồn dập khiến ông không thể minh mẫn mà suy nghĩ.
Giải pháp tốt nhất hiện giờ là tìm cách cứu họ càng nhanh càng tốt. Cách duy nhất trong trường hợp này là phép màu đến từ Ấn chỉ huy trên tay phải của ông.
“Ta ra lệnh cho con rối bằng lệnh chú trên tay!”
Kiritsugu nắm chặt lấy cánh tay và nhanh chóng đưa ra mệnh lệnh như một cái máy đã được lập trình sẵn.
“Saber, nhanh chóng trở về căn cứ.”
Lượng prana ngủ yên trong phong ấn chỉ huy trên tay của Kiritsugu thức tỉnh và toả sáng. Không hề cường điệu khi Saber ngạc nhiên về việc này.
Ngay lập tức, cô nhận ra mình đang là đối tượng của một luồng sức mạnh đang bủa vây. Một cách nhanh chóng, cô đã được đưa giữa của việc ‘di chuyển’ trong một không gian không có sự sống hay phương hướng.
Đó có lẽ là sức mạnh huyền thoại trong việc “ra lệnh cho Servant”.
Với tốc độ vượt qua cả qui luật nhân quả, cô đã vượt qua không gian trong một khoảnh khắc chỉ khoảng vài triệu phần giây, tốc độ gần bằng với ánh sáng , để hoàn thành việc di chuyển tức thời giữa hai địa điểm.
Tuy nhiên, thân phận đặc biệt của cô vẫn là một Heroic Spirit cầm kiếm. Tuy cô chỉ ‘dịch chuyển’ từ hàng ghế ở trạm xe bus đến một nơi khác, sự quen thuộc của căn cứ trong lòng đất này khiến cô lập tức nhận ra sự việc kì lạ kia là do Phong Ấn chỉ huy của Kiritsugu.
Chắc hẳn là có chuyện khẩn cấp xảy ra nên ông cần phải ra lệnh cho cô trở về nơi này. Trong vài triệu phần giây của lần dịch chuyển phá tan cả không gian, và cho đến khi cô đặt chân đến căn cứ, Saber đã thay đổi bộ trang phục thường ngày bằng bộ giáp màu bạc trắng. Không cần phải dò hỏi gì, cô đã hiểu ra tình hình chỉ qua một lần cái nhìn. Cách cửa bằng sắt bị phá hỏng bởi một sức mạnh hung bạo. Irisviel, người mà đáng ra phải đang nằm giữa Vòng tròng Ma thuật đã bị bắt, nơi đó chỉ có thi thể của Maiya đang quằn quại trong vũng máu.
“Maiya!”
Saber nhanh chóng chạy đến bên cạnh Maiya. Cô không thể làm gì, cô nhíu mày trước vết thương quá sâu của Maiya. Vết thương hồi ở trong rừng của nhà Eisbern cũng không thể bằng vết thương này. Những vết thưa chưa thành lại đã trở nên nghiêm trọng, nếu không cấp cứu kịp thời sẽ nguy hiểm đến tính mạng.
Khi cảm nhận được sự hiện diện của một Servant, Maiya từ từ mở mắt ra.
“Sa…ber…?”
“Cố lên Maiya! Tôi sẽ băng bó vết thương cho cô ngay lập tức. Sẽ ổn cả thôi.”
Nhưng Maiya lại hất đi bàn tay của Saber đang vươn tới cô.
“Nhanh kên….đuổi theo hắn mau….là…Rider…hắn đã….”
“….”
Việc cô được đưa đến đây bằng Phong ấn chỉ huy đã rất ngạc nhiên, nhưng việc này còn ngạc nhiên hơn trước hành động của Maiya.
Maiya có lẽ đã biết rõ về vết thương của mình. Cô ấy biết là mình sắp chết. Nhưng nữ sát thủ này lại quan tâm về việc Irisviel bị bắt cóc và thúc giúc Saber ưu tiên cho an toàn của Irisviel.
“Nhưng mà sau đó…”
Khi mà Saber định trả lời, cô chợt hiểu ra.
Người phụ nữ này cũng là một ‘hiệp sĩ’. Tuy biếur hiện khác với cô những hành động quả cảm khi từ bỏ mạng sống của bản thân mà đặt nhiệm vụ lên hàng đầu chính là tinh thần hiệp sĩ mà Saber luôn tin tưởng.
“Mình phải bảo vệ Irisviel cho đến giây phut cuối cùng”- Hisau Maiya đã tuyên thệ với Kiritsugu và Ỉisviel. Cô giao lại cho Saber lời hứa mà cô không thể hoàn thành vì cô sắp ra đi.
“Sẽ ổn thôi… Kiritsugu…sẽ đến…nhanh thôi….vậy nên…cô..h..hãy nhanh lên…”
Saber nghiến răng và nhắm mắt lại.
Suy nghĩ thấu đáo thì từng giây Saber lãng phí vì lo lắng cho Maiya là thời gian mà tên bắt cóc đưa Irisviel đến một nơi không thể tìm ra.
Vẫn còn hi vọng là Maiya sẽ được cưu bởi Kiritsugu-người đang nhanh chóng đến nơi này. Nhưng số phận của Irisviel thì không có hì đảm bải được nếu Saber không nhanh chóng đuổi theo. Theo những dấu vết còn lại thì không có ai khác ngoài một Servant gây ra. Và việc truy đuổi chỉ có thể do một Servant- tức là Saber- đảm nhiệm.
“… Maiya, cô phải cố gắng cho đến khi Kiritsugu đến, tôi sẽ đưa Irisviel trở về an toàn.”
Saber nguyện sẽ tiếp nối lời hứa của Maiya – chuyện này không có gì mà cô phải do dự cả.
Cô chạy ra khỏi căn cứ như vũ bão, nhảy lên mái nhà và tìm kiếm dấu vết của kẻ địch. Cô được chuyển đến đây bởi một tốc độ phi thường nhờ lệnh chú nên chắc chắn là sự việc này chỉ mới diễn ra, kẻ địch vẫn chưa thể đi xa. Kể cả khi cô không cảm nhận được sự hiện diện của hắn, cô vẫn có thể tự tìm ra hắn.
Saber đứng trên mái nhà và quan sat xung quanh bằng thị lực phi thường của một Servant. Cô vẫn chưa thể tìm ra kẻ đã bắt Irisviel.
Phạm vi khoảng nửa cây số…. Saber uy nghi đứng quan sát trên nóc của một toà nhà thương mại. Một vóc dáng mạnh mẽ, , mái tóc xoăn màu ngọn lửa , và một chiếc áo choàng màu đỏ thẫm; đó chắc chắn là Rider, Vua Chinh Phục, Alexander, người mà cô đã gặp nhiều trên chiến trường.
“Không lẽ đó là…đó thật sự là Rider?…”
Trước đó, Saber vẫn còn nghi ngờ về những gì Maiya đã nói. Người đó chính là vị Vua Chinh Phục kiêu ngạo, kẻ đã sử dụng kế sách bỉ ổi để bắt Irisviel- thật khó để tin điều này. Nhưng cánh tay rắn rỏi của ông ta đang giữ Ỉisviel, điều đó khiến cô không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy cô vẫn không hiểu làm thế nào mà bọn họ biết được căn cứ mới của cô, nhưng chắc chắn chính Rider đã tấn công Maiya.
Dáng vẻ của Rider như đang khiêu khích cô, nhưng lại lập tức biến mất khi bắt gặp cái nhìn của Saber.
“… Chết tiệt…!!!”
Saber đã xoá bỏ lòng tin của mình ở Rider và muốn đuổi theo ông ta. Nhưng đối thủ là một Heroic Spirit class Rider – Saber không thể nào đuổi theo kịp được.
Khá là dễ dàng nếu cô đuổi theo bằng băng qua các con đường theo Rider. Nhưng điều đó chỉ khả thi đối phương cũng di chuyển trên mặt đất. Nếu Rider bỏ trốn bằng Gordius wheel thì Saber không thể theo kịp cho dù cô có cố chạy nhanh đến cỡ nào.
Tuy vậy, Saber cũng có khả năng khinh kị. Để đố phó với một Bảo khí có thể bay lượn trên không thì cô nên sử dụng một phương tiện nào đó hơn là đi bộ.
Nếu là cô trong quá khứ thì Saber sẽ từ bỏ việc đuổi theo vì không có phương tiện. Nhưng may mắn thay, mấy hôm trước Maiya đã cung cấp cho cô một “chiến mã”.
Trong lòng thầm cảm ơn Kiritsugu về tầm nhìn chiến lược và kế sách tỉ mỉ của ông, Saber cưỡi “chiến mã” đuổi theo Rider. Cô loại bỏ bộ giáp nặng nề chẳng hề giúp ích gì ngoài cản trở trong trường hợp này và gắn kết với “chiến mã” trong sân vườn bị bỏ hoang.

[Light Novel] [Mục lục] Tatami Galaxy

Tatami Galaxy

Tác giả: Tomihiko Morimi.

Thể loại: school life, romance, fantasy.

Nguồn: sonako

Tình trạng: Hoàn.

watashi

Giới thiệu

Câu chuyện kể về một nam sinh viên sống trong một căn phòng rộng bốn chiếu rưỡi Tatami ở Kyoto, vì hối hận cuộc đời hai năm đại học lãng phí mà bị gửi vào một vòng lặp thời gian, cố gắng tìm kiếm một lựa chọn đúng để đạt được cuộc đời sinh viên màu hồng trong truyền thuyết.

Trong vòng lặp hai năm đó, mỗi lần cậu ta lựa chọn một câu lạc bộ khác nhau, vì thế mà có những mối quan hệ khác nhau với những người xung quanh, trong số đó là đứa bạn đểu giả bí ẩn Ozu và người đẹp lạnh lùng Akashi-san.


Chương 1-part 1

Chương 1-part 2

Chương 1-part 3

Chương 2-part 1

Chương 2-part 2

Chương 2-part 3

Chương 3-part 1

Chương 3-part 2

Chương 3-part 3

Chương 4-part 1

Chương 4-part 2

Chương cuối

Tatami Galaxy – Chương 4 [part 3]

Chương 4. Tám mươi ngày vòng quanh phòng bốn chiếu rưỡi. [part 3]

Ozu được bổ nhiệm làm trưởng ban “Cảnh sát thư viện”.
Thằng tôi một tuần không ra khỏi cửa hôm ấy cũng ráng leo ra ngoài, đi trong sân trường mà nơm nớp. Tôi trốn chạy đã lâu, người vẫn thấy lạnh toát, nhìn khung cảnh yên tĩnh cũng thấy sợ. Đi qua sân, tôi leo xuống tầng hầm của khoa Luật, nơi này đã trở thành phòng họp kín, nhìn thấy cuộc đảo chính của Ozu lẫn Ajima-senpai bị ném ra khỏi phòng họp như cục mỡ thừa.
Sau khi tan họp, mọi người đều rời đi, chỉ còn Ozu ngồi trong phòng. Tôi ở một góc phòng ngó lên mặt hắn. Trong phòng họp lạnh lẽo chỉ còn hai chúng tôi, hơi thở phun thành khói trắng. Dù Ozu đã thành trưởng ban “Cảnh sát thư viện” kiêm phó ban “Tiệm in ấn”, nhưng người y chẳng có chút uy phong nào, nhe răng cười hì hì tựa yêu quái như cũ.
“Mày dễ sợ quá nha!”
Tôi nói thiệt tình, nhưng Ozu ngáp dài:
“Trò chơi cả thôi mà.” Y nói. “Tại cứu mày tao mới làm thế.”
Sau đó chúng tôi ra khỏi phòng họp kín, đi ăn Ramen Mèo. Đương nhiên tôi mời.
Sau đó tôi dễ dàng rút khỏi “Quán Ăn Mèo Hên”, theo lý thì có thể mau chóng bước vào cuộc sống mới, nhưng qua hai năm không có ý nghĩa, thật sự rất khó đuổi theo người khác. Vì vậy tôi cuối cùng cũng giam mình ở Shimogamo Yuusuishou.
Tôi nghĩ nên mau chóng cắt đứt quan hệ với kẻ nguy hiểm như Ozu, nhưng không làm được.
Khi tôi thui thủi tự giam mình trong phòng bốn chiếu rưỡi, cuối cùng chỉ có Ozu lui lại thăm tôi.


Ozu học cùng năm với tôi, ở khoa kĩ sư cơ điện tử, nhưng y lại chán ghét điện cơ điện tử lẫn kĩ sư. Năm nhất xong thì thành tích y thấp tới kinh người, học phần lấy được ít đến đáng thương, người khác nhìn vào không khỏi lo lắng y đi học làm cái khỉ gì thế? Nhưng chính y lại chẳng hề quan tâm.
Bởi vì ghét ăn rau dưa. toàn chén đồ ăn nhanh, nên sắc mặt y như một sinh vật bò ra từ bên kia đen tối của mặt trăng, xấu xí ghê người. Nếu đi đêm gặp y, mười người hết tám sẽ nghĩ là yêu quái, hai người còn lại chắc chắn cũng là yêu quái. Y đè nén kẻ yếu, nịnh nọt kẻ mạnh, tuỳ hứng làm bậy, ngạo mạn vô lễ, lười biếng thành tánh, là tà ma ránh giời rơi xuống, bài học không thèm đếm xỉa, chẳng có điểm nào tốt đẹp, có thể lấy bất hạnh đau khổ của người khác làm thành đồ ăn ăn ba chén cơm – y cơ hồ không có gì tốt.
Nhưng y là đứa bạn duy nhất của tôi.


Tôi tiếp tục hành quân trong đau khổ.
Một ngày, tôi phát hiện trong một căn phòng bốn chiếu rưỡi có một số tài liệu phim ảnh. Ở giữa bàn học với giá sách lại có cuốn băng ghi hình tôi chưa từng thấy bao giờ. Ở bên ngoài băng viết nguệch ngoạc “Quyết đấu trên cầu Kamo-Ohashi.” Trên vỏ băng viết chữ “Misogi.” Hơi tò mò, tôi bỏ băng vào máy coi.
Đó là một cuốn phim vô cùng quái dị.
Bộ phim chỉ có hai diễn viên là tôi với Ozu. Nội dung về một cuộc chiến chơi khăm đã diễn ra từ thời chiến tranh Thái bình dương. Hai người đàn ông dồn nén sức mạnh và trí tuệ trong một cuộc chiến đầy bạo lực. Cái mặt kinh khủng như mặt nạ kịnh Noh chỉ có một biểu cảm của Ozu cùng với sự diễn xuất quá sức nhiệt tình của tôi, cùng với những cảnh phim về những trò chơi khăm bất tận khiến bộ phim trở nên hết sức kì cục không hiểu sao cả. Tôi toát hết mồ hôi lạnh ở cảnh cuối cùng khi Ozu nhuộm thân từ đầu đến chân màu hồng và tôi cạo nửa đầu lao vào đánh nhau trên cầu Kamo-Ohashi. Loại phim ảnh này coi xong thật đau khổ tới mức người ta không thể tha thứ chính mình.
Đã bảy mươi ngày không nhìn thấy Ozu, tôi cũng có hơi cảm động.
Không, phải là tôi nhớ y muốn chết.
Sau bộ phim kì quái đó cũng có vài thước phim ghi lại quá trình làm phim, có quay cả tôi. Tuy nói quá trình làm phim nhưng toàn là chuyện giỡn. Tôi với Ozu viết kịch bản trước máy ảnh, cùng nhau làm phông nền. Cũng có một cảnh hơi sến khi chúng tôi chiếu thử phim cho mọi người coi rồi mời gọi: “Xin mọi người góp ý” nhưng không ai chịu lên tiếng, cuối cùng chỉ có một cô gái cất giọng: “Mấy anh lại làm một bộ phim ngu ngốc đấy à.”
Cô gái đó nhìn quen quá.
“Là Akashi-san?!”
Tôi lẩm bẩm.


Hội sách cũ. Akashi-san. Mochiguma. “Hai vạn dặm dưới đáy biển.”
Mùa hè năm ấy, tôi tự nhiên xin việc làm thêm vào hội sách cũ Shimogamo, ở một tiệm sách cũ tên là Gabishobo. Ông già bán hàng giống như con bạch tuộc luộc nói là: “Trả lương theo giờ là được rồi nhé.”
Akashi-san là một nhân viên khác làm việc cùng với tôi. Ông bán hàng với tôi vô cùng lạnh lùng, nhưng khi nói chuyện với Akashi-san lại cứ như ông già rừng trúc gặp công chúa Kaguya. Khoảng cách giữa bạch tuộc luộc với ông già rừng trúc thật quá lớn.
Trên con đường dẫn lên ngôi đền, những hàng sách cũ dựng lều chi chít, rất nhiều người chen lấn tìm kiếm mua sách. Tôi nhìn đâu cũng thấy những bộ sách cũ xếp vào hộc gỗ san sát cạnh nhau, hai mắt như hoa lên. Tháng tám thời tiết oi bức, ve kêu inh ỏi. Tôi nghỉ giải lao ngồi trên bệ cây cầu nhỏ mà uống lemonade, suy nghĩ chuyện ở lại cái câu lạc bộ “Cảnh sát thư viện” thật vô cùng ngu ngốc.
Tôi gặp Akashi-san mấy ngày liền. Nàng tóc đen cắt ngắn, lộ ra hàng mi lý trí, đôi mắt sắc sảo, nhìn ai là không chuyển, khiến tôi cảm thấy là người rất bản lĩnh. Dẫu có kẻ nào định chôm sách, bị nàng liếc một cái cũng phải chùn tay.
Dù có ánh mắt lạnh lùng ghê gớm như thế, nhưng trên túi của nàng lại treo một con rối hình gấu rất dễ thương. Một hôm kết thúc công việc xong, tôi thấy nàng gương mặt nghiêm nghị như triết gia ngồi vuốt ve con gấu.
“Đây là cái gì?”
Nàng giãn đôi mày, mỉm cười mà nói: “Là Mochiguma đấy.”
Nghe nói nàng có một bộ năm con giống hệt, chỉ khác nhau màu sắc, gọi là “Đội chiến binh Mochiguma mềm mềm”. Cái tên Mochiguma quả rất khó quên. Nhưng khó quên hơn nữa là gương mặt tươi cười của nàng khi nói “Là Mochiguma đấy.”
Nói ngắn gọn hơn,không giấu diếm gì nữa, hoàn toàn chân thật, thì như quý vị độc giả đoán, tôi đã yêu nàng rồi.
Ngày hôm sau là ngày cuối cùng, khi trở về trên cầu nhỏ tôi nhặt được Mochiguma. Hình như Akashi-san đánh rơi. Tôi cầm nó về định mai gặp đưa lại cho nàng, nhưng ngày cuối cùng nàng không tới. Ông chủ tiệm Gabishobo lạnh lùng bảo nàng có việc gấp. Tôi mua một cuốn “Hai vạn dặm dưới đáy biển” làm kỉ niệm nhớ lại hội sách cũ, rồi rời khỏi đền Shimogamo
Từ đó đến giờ đã nửa năm, tôi nghĩ một lúc nào đó phải cầm theo Mochiguma trả lại cho Akashi-san, nên lúc nào cũng mang theo người. Vì vậy chuyện Mochiguma mất tích bí ẩn ở tiệm giặt là khiến tôi rất buồn khổ.
“Sao tự nhiên lại nhớ chuyện cũ thế này?”
Tôi nhìn Akashi-san trong Tivi, đột ngột buột miệng nói ra.

Nhìn thấy Akashi-san, tôi như có thêm sức lực.
Ngày hôm sau, tôi bắt đầu phá tường, tự hỏi cuốn băng kia có ý nghĩa gì. Tôi chưa từng cùng Ozu làm phim. Nhưng cuốn phim kia rõ ràng là do tôi với Ozu làm. Khi xem xong bộ phim, dù rất quái dị, nhưng trong lòng cũng thấy có một sự thúc đẩy ngấm ngầm muốn làm cuốn phim như thế. Trên băng hình viết chữ “Misogi.” Tôi lục lọi trí nhớ, chợt nhớ lại ở tháp đồng hồ năm nhất có một câu lạc bộ điện ảnh tôi không tham gia, chẳng phải tên là “Misogi” sao?
Những căn phòng có sự sai biệt tí chút.
Cuốn băng tôi không quay.
Trên giá sách có những cuốn tôi không mua.
Có bàn chải mai rùa không biết ở đâu mà có.
Không có sống chung với Kaori-san.
Một vài ngày phá tường tiếp theo, tôi chợt dừng lại, đứng giữa phòng nhìn lên trần.
Cuối cùng tôi đã hiểu ra kết cấu của cái thế giới bốn chiếu rưỡi này.
Hồi giờ không nhận ra, tôi thấy vô cùng xấu hổ với bản thân. Những căn phòng bốn chiếu rưỡi này là của tôi cả. Nhưng mỗi phòng đều là một thế giới song song nơi tôi có một chọn lựa khác với thế giới ban đầu. Mấy chục ngày nay, tôi đã đi qua những thế giới song song về những khả năng mình có thể sống.
Tôi thấy kiệt cùng sức lực. Kêu lên một tiếng, tôi đổ sập xuống sàn nhà, không cựa nổi.
Tôi không biết được những thế giới này sắp xếp như thế nào, không biết tại sao những thế giới này hiện ra, không biết tại sao tôi lại rơi vào nơi này.
Nhưng tôi đoán được một điều.
Vận mệnh của tôi sẽ thay đổi chỉ với những quyết định nhỏ. Vì mỗi ngày tôi có vô số quyết định lựa chọn khác nhau, nên xảy ra vô số khả năng. Nên về nguyên tắc mà nói, mê cung bốn chiếu rưỡi này là vô tận.


Tôi nằm yên trên đất, lắng tai nghe.
Thế giới bốn chiếu rưỡi hoàn toàn yên ắng.
Không có ai để nói chuyện. Không có điều gì để nói. Không còn quá khứ, không còn tương lai. Không còn ai tìm kiếm tôi, cười nhạo tôi, tôn trọng tôi, khinh ghét tôi, và khả năng có một người như thế xuất hiện là không có.
Tôi giờ như tro bụi trong căn phòng bốn chiếu rưỡi này.
Dầu là thế giới biến mất hay tôi biến mất, với tôi bây giờ, tôi là con người duy nhất còn lại. Tôi đi qua mấy trăm gian phòng, chẳng gặp một ai.
Tôi trở thành người cuối cùng của nhân loại.


Nếu có thể thoát khỏi nơi này, sẽ có rất nhiều điều tôi muốn làm.
Ăn một bữa thật ngon, đi ăn Ramen Mèo. Đi ra Shijo Kawaramachi. Đi coi phim. Đi cãi lộn với ông già bạch tuộc chủ tiệm Gabishobo. Thỉnh thoảng lên trường nghe giảng chắc cũng hay. Đi tế lễ cho thần linh ở đền Shimogamo. Lên lầu hai nói chuyện bậy bạ với Higuchi Seitarou. Đi khám răng ở phòng khám Kubozuka, tận hưởng mùi vị ngón tay dài mềm mại của Hanuki-san. Đi an ủi Ajima-senpai đáng thương vừa bị tổ chức khai trừ. Mọi người đang làm gì thế? Cuộc sống vẫn náo nhiệt sao? Jougasaki và Kaori- san có hạnh phúc không? Ozu có lấy bất hạnh của người khác làm đồ ăn ba chén cơm không? Akashi-san mất một con Mochiguma trong “Đội quân Mochiguma mềm mềm” phải làm sao đây? Hay ngẫu nhiên lại nhặt được ở đâu đó? Tôi muốn xác minh chuyện này.
Có điều, bây giờ điều đó đã thành không thể.


Tôi thấy thứ gì cộm cộm ở lưng, rơi ra khỏi mộng, sờ thì hóa ra đó là cái răng khôn nhổ ở phòng khám nha Kubozuka, liền bật cười khanh khách chẳng hiểu ra sao. Tôi đặt cái răng sâu đó lên lòng bàn tay.
Vì sao vật này lại ở đây?
Nơi này là phòng bốn chiếu rưỡi số 0 sao?
Tôi chẳng biết mình nghĩ sai chỗ nào, nhưng mấy chục ngày qua, lại trở về căn phòng số 0 ban đầu. Hóa ra chỉ đi một vòng nhỏ lại về điểm xuất phát, thế giới này chỉ là một vòng tròn đấy sao?
Cũng có thể đây không phải căn phòng ban đầu. Khi đi qua cửa sổ, cũng có thể là vì căn phòng đối ngược lại mà bị ảo giác nhầm hướng. Tôi tuy đã chọn lựa phương hướng cẩn thận, nhưng cũng không được hoàn toàn.
Tôi đã hoàn toàn tuyệt vọng, nên chấp nhận hết thảy.
Tôi nằm trong chăn, vò đầu bức tóc. Tôi quyết định chắc chẳng còn cách nào khác ngoài chuyện chấp nhận. Đừng phá tường nữa, cứ sống như bậc thân sĩ, đọc sách tốt lẫn sách khiêu dâm, hướng tinh thần vào trong. Nếu không thể rời đi, cứ tiếp tục sống kiêu hãnh chờ ngày chết quách cho rồi.
Tôi nghĩ như thế rồi ngủ lăn.
Đó là chuyện xảy ra trong ngày thứ bảy mươi chín.

Tôi thức dậy.
Đồng hồ chỉ sáu giờ, nhưng chẳng biết sáu giờ sáng hay sáu giờ tối. Tôi nằm trong chăn chẳng biết dậy làm gì, nhưng chẳng biết ngủ bao lâu rồi. Tôi lăn lộn trong chăn như con sâu độc rồi ngồi dậy.
Yên lặng quá.
Tôi uống cà phê, hút thuốc, không muốn làm gì, rút cái răng khôn sâu đục ra coi.
Tôi soi cái răng khôn dưới đèn huỳnh quang, suy nghĩ lại chuyện bà thầy bói nói. Rơi vào tình thế này chắc chắn do bà ta. Hồi bà ta bảo tôi rất có tư chất, hẳn là phỉnh phờ để tôi ước được thay đổi cuộc sống, đi đến cuộc đời mới rồi kẹt trong cái mê cung này.
“Đấu trường”
Ngớ ngẩn.
Tôi chẳng còn mơ mộng gì cuộc sống sinh viên màu hồng rồi.
Nhưng nói đi nói lại, cái răng này bị sâu dữ thật. Làm sao tôi chịu nổi tới giờ này tôi cũng không biết nữa. Phần trên đều bị đục nham nhở, có thể thấy bên trong như mô hình khoa học. Đưa gần mắt nhìn thật kĩ, quả thực là sâu quá mức, tới mức không giống răng khôn, mà giống như công trình kiến trúc La mã hồi xưa…
“Đấu trường?” Tôi lẩm bẩm.
Bên tai tôi truyền đến tiếng cửa sổ lạch cạch.
Quay lại nhìn, tôi thấy một đàn ngài đen kịt đang tràn qua khe hở ở cửa sổ.
Cái đàn ngài này cũng đã xuất phát từ phòng số 0 chạy một vòng quay về đây. Có rất nhiều ngài đã vào được, múa may tha hồ ở cửa sổ. Tôi nhìn qua phòng bên kia, thấy đen nghìn nghịt. Hoảng hồn, tôi mở cửa tính chạy qua phòng số 1.
Tôi mở cửa, gió lạnh trên hành lang đập vào mặt.
Hàng lang đầy bụi bặm, kéo dài trong bóng đêm. Mấy cái đèn tròn nhấp nháy. Phía cuối hành lang lóe lên ánh đèn huỳnh quang.

Tôi chạy vội trên hành lang, không để ý đàn ngài đen kịt lao ra từ phòng mình.
Góc hành lang phát ra tiếng phì phò – có ai đó đang dùng ổ cắm ở ngoài mà nấu cơm. Mùi cơm chín hấp dẫn làm tôi suýt dừng lại, nhưng vẫn tiếp tục chạy. Mở tủ giày ra, tôi xỏ giày vào chân. Rời khỏi Shimogamo Yuusuishou, tôi bước ra thị trấn Shimogamo Izumigawa.
Bầu trời trên đầu phủ màu lam xuống thị trấn. Cơn gió lạnh vuốt qua hai má. Mùi thơm quá. Mùi của thế giới bên ngoài. Không chỉ thế, còn có âm thanh. Tôi nghe truyền đến bên tai tiếng rừng thiêng Tadashu xào xạc, tiếng nước sông chảy róc rách, cả tiếng xe cộ băng qua trời chiều.
Tôi đi qua đường lớn. Nhìn thấy đèn đường, rồi đèn từ trong những căn nhà hắt ra. Đi qua Shimogamo Saryo tỏa sáng nhẹ nhàng trong đêm tối. Không lâu, bên tai truyền tới tiếng xe chạy rầm rầm, thấy vùng châu thổ Kamogawa náo nhiệt. Rừng tùng trên tam giác châu thổ Kamogamo chật kín người, hình như sinh viên đang tổ chức tiệc tùng.
Tôi băng qua rừng tùng. Vừa đi trong đầu vừa ùa tới bao nhiêu cảm xúc hỗn loạn, bên tai là tiếng lá cây xào xạc xen lẫn tiếng sinh viên nói chuyện cười đùa ầm ĩ. Một số người liếc sang tôi, nhưng thấy tôi râu tóc bờm xờm, mắt đầy nước, liền giả bộ như không thấy.
Đi hết rừng tùng, một khoảng trời màu lam mở rộng bao la, sâu thăm thẳm trước mắt. Tôi lao xuống đứng ở mũi nhọn tam giác Kamogawa. Tôi đứng đó như thuyền trưởng đứng mũi tàu. Phía bên trái là dòng sông Kamo, phía bên phải là dòng sông Takano, hợp lưu trước mặt tôi rồi cuồn cuộn đổ về hướng nam.
Ánh sáng đèn đường hắt xuống, mặt sông lay động nhìn như tờ giấy tráng bạc. Cầu Kamo-Ohashi vắt ngang trước mặt. Trên lan can mấy cột đèn tỏa ra ánh sáng màu cam, xe cộ đi lại rọi sáng màn đêm. Trên cầu Kamo-Ohashi người người đi lại tấp nập. Ánh đèn trên bệ cầu, ánh đèn sáng trắng lóe ra từ hướng nhà ga Demachi-yanagi, ánh đèn xe cộ qua cầu, ánh đèn ở vùng Shijo phía xa xa, tất cả đều lóng lánh như ngọc quý tuyệt đẹp. Mắt tôi nhòe đi.
Trời ơi, đông quá.
Đông như lễ hội Gion vậy.
Tôi ngửa mặt lên, hít một hơi đầy khí trời trong sạch thơm mát. Nhìn bầu trời đang chuyển từ hồng sang lam, mặt tôi tự nhiên méo đi, rồi hò hét vui sướng không ai hiểu được.

Tôi chìm đắm trong cảm giác hạnh phúc ngập tràn, không để ý thiên hạ liếc mình nghi ngờ sợ hãi.
Không biết tôi đứng đó say sưa bao lâu, khi giật mình tỉnh dậy thì cầu Kamo-Ohashi đã hóa ồn ào. Từ mũi nhọn của tam giác châu thổ nhìn sang, tôi thấy một đám sinh viên chen chúc hò hét tiến tới từ hai đầu cầu. Không biết có chuyện gì loạn vậy?
Có một thằng nào đó đang đứng trên bệ cầu Kamo-Ohashi. Hình như đang cãi lộn gì với mấy người đứng trên cầu. Ánh sáng đèn trên bệ cầu hắt lên mặt y, tôi nhận ra đó là Ozu. Hắn đứng trên bệ cầu, làm động tác như sắp nhảy xuống, lại như tranh cãi gì, gương mặt nhếch lên nụ cười đểu cáng. Tám mươi ngày không gặp, y cũng trông như yêu quái. Hình như chuyện tôi biến mất cũng thúc đẩy đường diệt vong của y.
Tôi nhớ y quá, bắc loa gọi lớn “OZU!!!” Nhưng y không nghe thấy.
Thằng đó đã làm chuyện điên rồ gì vậy? Tôi đang nghĩ nên làm gì bây giờ, thì phía sau lưng có tiếng người la hét.
Từ cánh rừng tùng một đám mây đen kịt ùa ra, sự tình không hề tầm thường. Trong đám mây đen đó có một đám thanh niên chạy toán loạn, hai tay múa may đầu tóc bù xù, nhìn như hóa điên rồi. Đám mây màu đen đó tiến thẳng đến mũi nhọn nơi tôi đứng.
Đó là một đàn ngài lớn.


Ngày hôm sau việc này có được đăng lên báo Kyoto. Về chuyện làm sao đám ngài lại phát sinh dị thường như vậy, hình như chi tiết cũng không ai biết. Lần ngược lại đường bay của đám ngài hình như tới được rừng thiêng Tadasu bên cạnh đền thờ Shimogamo, nhưng cũng không rõ ràng lắm. Tại sao lũ ngài sống trong rừng Tadasu lại đột ngột di chuyển như thế, rốt cuộc cũng không giải thích được. Ngoại trừ lời tuyên bố chính thức, thì có tin đồn là nguồn phát sinh lũ ngài không phải là đền thờ Shimogamo, mà là thị trấn Izumigawa bên cạnh Kamogawa, nhưng như thế mọi chuyện càng khó hiểu hơn. Ngày hôm đó, nhà trọ của tôi cũng đầy ngài bay lượn, vô cùng hỗn loạn.
Đêm hôm đó, khi tôi trở lại nhà trọ, trong hành lang đầy xác ngài, phòng tôi quên khóa, cửa hé ra một nửa nên cũng trong tình trạng tương tự. Tôi cẩn thận đem xác lũ ngài đi chôn cất.
Nhưng đọc tới đây bạn đọc hẳn cũng đoán được chuyện gì xảy ra rồi.
Tôi nghĩ mọi chuyện như sau.
Đàn ngài khổng lồ kia chắc chắn là từ mê cung bốn chiếu rưỡi kia tới. Chúng theo căn bốn chiếu rưỡi của tôi thoát ra ngoài sau tám mươi ngày giam cầm. Sau đó đàn ngài rời khỏi Shimogamo Yuusuishou, vì lý do nào đó mà lại bay ra sông Kamogawa.


Đàn ngài đập cánh xoành xoạch vào mặt, đôi khi muốn chui cả vào miệng, tôi xoạc chân thủ thế cố trụ lại trên mũi nhọn tam giác Kamogawa.
Tuy nói như thế, đàn ngài khổng lồ khi đó quả là vượt quá lẽ thường. Tiếng vỗ cánh hỗn loạn hoàn toàn chia cắt tôi với thế giới bên ngoài, như thể đấy không phải là lũ ngài, mà là một lũ yêu quái có cánh bay qua vậy. Hầu như chẳng nhìn thấy thứ gì. Hé mắt ra cố nhìn, tôi thoáng thấy lũ ngài bay thành đàn vòng vòng quanh những ngọn đèn màu cam trên lan can cầu Kamo-Ohashi , và có bóng người rơi xuống Kamogawa.
Đàn ngài cuối cùng thì cũng bay qua, nhưng có lũ ngài bị bỏ lại vẫn bay tán loạn. Vùng tam giác Kamogawa dậy tiếng người xôn xao sợ hãi, nhưng tôi chăm chú nhìn xuống sông. Người cố bám vào trụ cầu như rác rưởi dính lại, chính là Ozu.
Trên cầu chật ních sinh viên, ồn ào lên tiếng: “Thằng đó ngã xuống rồi,” “Nguy rồi nguy rồi” “Mau mau cứu hắn” “Hắn chết đi luôn thì tốt” “Loại đó khó chết lắm!”
Tôi lội xuống sông Kamogawa đang dâng nước cuồn cuộn, bơi tới gần Ozu, suýt bị nước cuốn đi. Đã lâu không tắm rửa, nên thế lại khoái. Vất vả lắm mới tới được trụ cầu. Tôi tới gần hỏi: “Mày không sao chứ?”
Ozu nhìn tôi chằm chằm, kêu lên: “Là mày đấy à?”
“Ừ là tao, tao đây!”
Ozu nheo mắt lại như nhìn cho kĩ.
“Mày làm sao mà râu tóc bờm xờm như Robinson lạc vào hoang đảo thế kia?”
“Khổ lắm mày ơi!”
“Tình hình ở đây cũng rắc rối lắm.”
“Mày cử động được không?”
“Đau, đau quá! Chắc gãy xương rồi.”
“Thôi lên bờ nói sau.”
“Đau quá, tao không đi nổi đâu.”
Một đám người tràn xuống từ cầu Kamo-Ohashi. Có người nhảy xuống sông tới trụ cầu giúp tôi đưa Ozu lên bờ. “Đau quá, đau quá, nhẹ nhẹ chút coi.” Thằng Ozu mè nheo vô lý. Chúng tôi đầu tiên khiêng nó vào bờ sông. Một đám người ở bờ Tây ẩn núp, rốt cuộc là ai vậy? Hình như trong đám người tôi thoáng thấy Ajima-senpai, có chút hoảng, nhưng ngẫm lại không còn sợ hắn nữa. Mọi người bao quanh Ozu nằm ngay đơ như khúc gỗ trên bờ sông.
Sau đó Higuchi xuất hiện, liền nói lớn: “Có ai gọi xe cứu thương chưa?” Jougasaki kêu: “Akashi-san gọi rồi, sẽ tới nhanh thôi.” Hanuki-san đứng cạnh Jougasaki, nhìn xuống Ozu rên rỉ, nói: “Cũng là mình làm mình chịu thôi.”
Ozu nằm ở bờ sông tối tăm rên rỉ: “Đau quá, đau quá, ai làm gì đi.”
Higuchi đứng đằng sau Ozu hỏi: “Con bữa nay làm trò gì vậy?”
Ozu lúng búng: “Sẩy chân thôi ạ.”
“Ozu, đôi lúc con cũng đáng khen nhỉ.” Sư phụ của Ozu nói.
“Sư phụ, cảm ơn ngài lăm lắm!”
“Nhưng không phải là để xương đùi gãy thiệt đi. Thật là ngốc hết thuốc chữa.”
Ozu sụt sùi khóc. Có mấy người xì xầm đằng xa.
“Ozu sẽ không trốn, mấy người yên tâm đi!” Higuchi quát lớn vẻ giận dữ. “Ta bảo đảm!”
Khoảng năm phút sau, thì xe cứu thương đến cầu Kamo-Ohashi.
Jougasaki trèo lên đê, rồi dẫn mấy nhân viên cứu thương cùng nhau xuống. Nhân viên cứu hộ cuốn chăn quanh người Ozu rồi đặt y lên cáng cứu thương một cách chuyên nghiệp. Nếu họ cứ thế liệng y xuống sông Kamogawa luôn thì tôi hạnh phúc biết mấy, nhưng họ là nhân viên cứu hộ với tất cả mọi người phải cư xử bình đẳng tỏ lòng trắc ẩn. Thằng Ozu, cái thằng chẳng ngần ngại làm chuyện tồi tệ đó, chẳng đáng được đặt lên xe cứu thương cẩn thận thế.
“Ta đi theo Ozu nhé.”
Higuchi cùng Hanuki-san nhảy lên xe cứu thương.
Chẳng mấy chốc, xe cứu thương chạy đi.


Khi tôi ở nơi không ai biết, chuyện gì đã xảy ra?
Việc Ozu đã làm gì để dẫn đến bị dồn đuổi lên cầu Kamo-ohashi là một chuyện vô cùng phức tạp, kể ra tỉ mỉ sẽ thành cái truyện khác, nên đành nói tóm tắt ngắn gọn thôi.
Jougasaki cùng với Higuchi, hai người tiến hành cuộc chiến tranh bí ẩn “chiến tranh truyền đời tự hành hạ.” Khoảng giữa tháng năm năm nay, vì áo yukata bị Jougasaki nhuộm hồng, Higuchi nổi giận ra lệnh Ozu kiếm cách trả thù. Vì vậy Ozu sắp xếp kế hoạch báo thù Jougasaki, định bắt cóc Kaori-san. Đó là lặp lại chuyện Ajima làm mùa thu năm ngoái. Ozu định mang Kaori-san tới gửi chỗ tôi, nhưng vì tôi không có nhà, nên đưa cho cán bộ A ở “Cảnh sát thư viện.” Nhưng cán bộ A lại mau chóng yêu Kaori-san, tình yêu bị cấm đoán, muốn chạy khỏi Kyoto với nàng nên sự tình lớn chuyện. Ozu sai lực lượng “Cảnh sát thư viện” đuổi theo chặn đường taxi của A chạy trốn, lấy lại Kaori-san. Nhưng khi chuyện Ozu dùng “Cảnh sát thư viện” vào việc riêng bị phát giác, nên những người bất mãn với việc Ozu vừa là trưởng ban “Cảnh sát thư viện” vừa là phó ban “Tiệm in ấn” nhân cơ hội mua chuộc bên “Hội dọn xe vui vẻ” mà lục soát tổng bộ. Họ phát hiện ra Ozu đã biển thủ lợi tức của “Tiệm in ấn” để mua cống phẩm cho Higuchi Seitaro. Ajima từ hồi bị Ozu tống cổ đến giờ luôn chờ đợi cơ hội, nhân thấy có động tĩnh, tìm cách quay lại Quán Ăn Mèo Hên. Y sai khiến lũ năm dưới đàn em ở hội điện ảnh Misogi mai phục tìm bắt Ozu. Đêm đó trên đường về, Ozu phát hiện nguy hiểm, nên không về nhà trọ mà ở lại ngoài vườn một căn nhà ở Jodoji gọi điện cho Hanuki-san nhờ Higuchi cứu viện. Higuchi sai Akashi-san tìm cách cứu Ozu, nàng lập tức đi đến Jodoji. Xung quanh nhà trọ của Ozu, từ Jodoji tới Ginkujoji đều dày đặc tầng tầng lớp lớp mai phục, nhưng Akashi-san dẫn được Ozu qua hồ Biwa thoát hiểm. Y theo lời Akashi-san ăn mặc giả làm con gái, chạy thoát đến Kamogawa, định nhân trời tối qua lại khu nhà Shimogamo Yuusuishou, nhưng mà gặp phải Jougasaki trong phòng trọ của Higuchi. Jougasaki vì Kaori-san bị trộm mất, giận tím mặt, Ozu bị phát hiện đuổi đánh, bị người của “Quán Ăn Mèo Hên” nhân đó phát hiện. Mặc dù cố tìm cách chạy trốn, nhưng cuối cùng bị dồn đuổi ra cầu Kamo-Ohashi, đành phải nhảy lên ban công.
Ozu đứng lên bậu cầu như tengu mà nói:
“Mấy người muốn làm cái gì, tui sẽ nhảy cầu xuống đó nha.” Ozu nói “Trừ khi mấy người bảo đảm an toàn tính mệnh cho tui, tui không xuống đâu.”
Cuối cùng y ngã xuống sông gãy xương.


Ozu bị mang đi, đám đông cũng tan mất. Tám mươi ngày sống một mình tự nhiên bị lôi vào vụ rắc rối này, tôi thần mặt ra, vuốt râu không ngừng.
Tôi nhìn quanh bờ sông, phát hiện một cô gái đang ngồi ở ghế dài, hai tay ôm gương mặt xanh nhợt. Tôi tới gần nàng.
“Em ổn cả chứ.” Tôi hỏi nàng.
“Thật sự là em rất sợ ngài.”
Tôi thầm nghĩ, hèn gì mặt nàng trắng bệch như thế.
“Đám người đó sao lại tụ tập hỗn loạn thế?”
“Vì Ozu-san…thôi chuyện rắc rối quá không giải thích hết.”
“Em biết Ozu à?”
“Vâng, anh cũng biết ạ?”
“Đã quen nó hai năm rồi.”
Tôi tự giới thiệu là người sống ở lầu một Shimogamo Yuusuishou, đã quen Ozu từ năm một.
“Anh cũng dính vô Cảnh sát thư viện hả?” Nàng hỏi. “Hay anh là nạn nhân trong vụ nuôi hải mã?”
“Vụ nuôi hải mã?”
“Sư phụ Higuchi nói muốn nuôi hải mã, nên Ozu-san kiếm về cái bể nước. Nhưng đương đổ nước vào, cái bể lại vỡ, nước tràn ra ngoài.”
“Ừ biết rồi. Thảm cho anh lắm.”
“Nhưng cuối cùng lại không nuôi hải mã.”
“Sao thế?”
“Trong khi chờ đợi Ozu-san sửa bể, sư phụ lại nói cá mực khổng lồ cũng được.”
“Nếu nuôi trong bể tắm cũng không được.”
“Thần thông quảng đại như Ozu-san cũng làm không được, nên cuối cùng mua cờ Ferrari tạ lỗi sư phụ.”
Rồi nàng chà xát má.
“Muốn uống cà phê cho bình tĩnh lại không?” Tôi hỏi.
Chẳng bao giờ tôi có ý lợi dụng điểm yếu sợ ngài của cô nàng mà toan tính những chuyện bất chính. Chẳng qua là đang lo nghĩ đến gương mặt tái xanh của nàng thôi.
Tôi đến máy bán hàng tự động gần đó mua cà phê nóng rồi cùng uống với nàng. Dần dần nàng cũng tĩnh trí lại.
“Mochiguma khỏe không?” Tôi hỏi.
“Khỏe, nhưng thiếu một con.” Nàng dừng lại, rồi nhìn tôi không chớp, chợt như hiểu ra. “Hồi trước anh có làm thêm ở tiệm sách Gabishobo đúng không? Không nhận ra anh thật thất lễ.”
“Em còn nhớ à?”
“Còn nhớ chứ. Nhưng giờ râu tóc anh tốt quá.” Nàng nhìn tôi chằm chằm.
Tình cảm tới bây giờ có diễn tả tỉ mỉ ra cũng vô ích. Tôi nhìn nàng mang hết tình cảm đè nén buột miệng nói ra:
“Akashi-san, muốn ăn Ramen Mèo không?”


Sau đó chúng tôi đi ăn Ramen Mèo. Thấy ông bán hàng tuôn nước mắt như mưa. Tám mươi ngày rồi mới ăn Ramen Mèo.
“Ngon như vậy sao?” Akashi-hỏi.
“Ừa, ừa” Tôi khóc nho nhỏ mà nói.
“Vậy thì tốt rồi.” Nàng gật đầu, tiếp tục ăn.


Đây là nhật kí hành trình “Tám mươi ngày vòng quanh phòng bốn chiếu rưỡi” của tôi.
Sau đó tôi không dám vào trong phòng bốn chiếu rưỡi nữa, ngủ đêm trên hành lang. Rồi khi nghe ở Mototakana có phòng trọ cho thuê, tôi liền dọn nhà. Lần này tôi chọn phòng rộng sáu chiếu có nhà vệ sinh. Dù như thế đôi lúc tôi cũng chợt nhớ chuyện tiểu vào chai bia, tàn dư của tám mươi ngày kinh khủng đó.
Thật lạ lùng rằng dù tôi ở trong thế giới bốn chiếu rưỡi lâu như thế, thời gian trong thế giới thực không qua đi. Không giống như Urashima Taro, mà giống như giấc mơ hơn. Nhưng nhất quyết không phải mơ. Đàn bươm bướm đó, râu mọc thật dài, ba lô chứa đầy tiền một ngàn yên, tất cả đều là chứng cứ. Tiền chuyển nhà của tôi cũng lấy ở trong ba lô đó.

Chuyện quan hệ của tôi và Akashi-san sau đó diễn tiến thế nào thì không nằm trong chủ đề cuốn sách. Vì vậy tôi xin không kể những chuyện vui vẻ ngượng ngùng này ở đây. Nếu độc giả muốn đọc những chuyện như thế, thì các vị thật sự là đang mang thời gian vàng ngọc đem vất đi mà thôi.

Những chuyện tình yêu hạnh phúc thì không đánh được nhắc tới.

Mặc dù bây giờ có thể nói cuộc đời sinh viên của tôi đã ít nhiều có thể thấy những phát triển mới, tuy nhiên với thời thơ dại rực rỡ đã qua, tôi vẫn luôn thấy tiếc nuối. Tôi không phải là loại người có thể nhìn lại những sai lầm đã qua một cách tích cực. Mặc dù cũng đã ôm mộng những ái tình to lớn, nhưng những cô gái trẻ trung kiều diễm thì ai lại muốn xích lại gần những thẳng lôi thôi đã qua tuổi hai mươi chứ. Tôi vì chuyện này quả quyết từ chối chuyện tha thứ bản thân mình.
Tôi vẫn không xua đi được cảm giác hối hận, khi đứng trước tòa tháp đồng hồ định mệnh ấy đã chọn Tổ chức bí mật Quán Ăn Mèo Hên. Đôi lúc nghĩ nếu chọn khác, hẳn sẽ trải qua hai năm hoàn toàn khác.
Nhưng sau khi vòng vèo tám mươi ngày trong cái thế giới bốn chiếu rưỡi đó, tôi suy luận rằng dù mình chọn đường nào cũng sẽ trải qua hai năm vô ích. Tuy điều đó nghe rất đáng sợ, nhưng rồi tôi chọn đường gì cũng sẽ gặp Ozu. Như Ozu nói, chúng tôi được nối với nhau bởi sợi chỉ đen của số phận.
Nên tôi sẽ không còn ôm khư khư lấy quá khứ, sẽ bỏ qua những chuyện sai lầm đã cũ.

Ozu nhập viện một thời gian ở bệnh viện kế cạnh trường đại học.
Y bị cột chặt trên giường bệnh trắng tinh, quả là một cảnh tượng thú vị. Nhìn sắc diện y rất xấu, trông như mắc chứng nan y, nhưng kì thực chỉ là bị gãy xương. Tôi phải nói y chỉ gãy xương là may mắn. Ngoài chuyện y ngày làm chuyện xấu như ngày ăn ba bữa cơm, tôi phải nói là đáng đời y lắm. Nhưng y nói ồn ào quá nên tôi định mang castella tới thăm tọng vào họng cho y câm miệng.
Ngoài Higuchi, Jougasaki, Hanuki-san với Akashi-san, người tới thăm còn có học sinh năm dưới ở câu lạc bộ điện ảnh Misogi, bè bạn ở câu lạc bộ bóng chày Honwaka, trưởng ban kỉ niệm thành lập trường, ông chủ quán Ramen Mèo, chủ quán nhậu, cùng với rất nhiều người thuộc Quán Ăn Mèo Hên. Tôi ngạc nhiên khi thấy Ajima-senpai cũng tới. Người của Quán Ăn Mèo Hên bao vây chờ chực ngoài khách sạn để phòng Ozu chạy trốn.
Một hôm tôi, Akashi-san với Ozu đang nói chuyện phiếm, tự nhiên có một cô gái xinh đẹp thanh tú cực kì mang hộp đồ ăn trưa tự làm bước vào. Ozu kích động khác thường, đuổi chúng tôi ra ngoài. Ở bên ngoài phòng bệnh, Akashi-san cười khanh khách như con quỷ nhỏ.
“Cô bé đó là ai?” Tôi hỏi.
“Kohinata-san. Bạn ấy cùng tham dự hội điện ảnh Misogi với em và Ozu-san, hình như bạn ấy với Ozu-san quen nhau từ năm nhất.”
“Ozu có bạn gái hả?”
“Anh ấy làm nhiều chuyện xấu vậy, mà vẫn còn thời gian kết giao với phái nữ.” Akashi-san vui vẻ nói. “Ozu-san bình thường không muốn cho Konihata-san gặp ai đâu. Ở trước mặt Konihata-san, hẳn là Ozu-san ngoan ngoãn lắm.”
Tôi chợt đưa mắt xuống cuối hành lang.
Có gã nào đó cứ nắm cái cần điện thoại trả tiền hoài. Mặt y quen quen, hình như là gã thuộc “Cảnh sát thư viện”, tham gia vào kế hoạch bắt cóc Kaori-san. Thấy tôi gã vội vàng lỉnh đi.
“Kẻ thù của Ozu nhiều quá.Akashi-san, em nghĩ y nên trốn đi một lúc không?”
“Đúng vậy nhỉ.”
Akashi-san mỉm cười nói.
“Bảo ảnh trốn đi. Em sẽ giúp.”


Vì thằng bạn duy nhất hai năm qua của tôi Ozu rơi vào cảnh khốn khổ, tôi vui lòng đề nghị giúp hắn.
“Mày ra viện cũng sẽ gặp rắc rối đó.”
“Ai chả biết chứ.”
“Thôi mày lánh đi đâu đó cho tình hình nguội bớt đi. Tao trả phí.”
“Mày có chủ ý gì?” Ozu ngờ vực nhìn tôi. “Tao không bị lừa đâu.”
“Mày đừng lấy bụng tiểu nhân đo lòng quân tử, trên đời đầy những người tốt như tao nè. Mày có tiền không?”
“Tao không muốn nói với mày.”
“Thôi đừng nhảm nữa, tao sẽ trả tiền.”
“Vì sao mày lại sẵn sàng chi nhiều tiền như thế?”

Tôi cười khì khì.
“Đó là cách tao thể hiện tình yêu.”
“Cái tình yêu dơ dáy của mày, tao không cần.”
Ozu đáp.

Tatami Galaxy – Chương 4 [part 2]

Chương 4. Tám mươi ngày vòng quanh phòng bốn chiếu rưỡi. [part 2]

Vấn đề lương thực và thuốc lá cơ bản có thể giải quyết như sau.

Đi sang phòng bốn chiếu rưỡi số 1.

Căn phòng tự nhiên xuất hiện bên kia rõ là phòng tôi, thì tôi xài đồ đạc trong phòng có gì xấu đâu?

Khi tôi bước vào phòng số 1 đã thấy một hộp thuốc lá. Sau đó tìm được bánh kẹp cá cùng với castella. Còn có một củ cải trắng. Tôi nướng bánh kẹp, thêm gia vị, tận hưởng protein sau ba ngày đói meo. Chưa bao giờ bánh kẹp cá ngon đến thế. Xong rồi tôi tráng miệng bằng castella, cảm thấy như được hồi sinh.

Tôi đi theo căn phòng đó, sang phòng bốn chiếu rưỡi số 2, phòng bốn chiếu rưỡi số 3, phòng bốn chiếu rưỡi số 4 số 5…cứ thế kéo tới vô tận. Mặc dù tình thế rất khổ sở, bây giờ có thể nói tôi đang ở trong một phòng trọ có khi còn rộng hơn bề mặt của trái đất.

Tình thế rất đáng tuyệt vọng, nhưng nghĩ kĩ cũng có điểm tươi sáng. Ăn hết thực phẩm trong phòng này, tôi có thể sang phòng khác kiếm lương thực rồi. Tuy như thế không được cân bằng dinh dưỡng, nhưng có thể tránh được chuyện chết đói.

Dẫu sao cũng phải nói, cũng nhờ Ozu mang castella cho tôi. Tuy tôi mãi vẫn không cắt được nghiệt duyên từ hồi năm một với y, nhưng lần đầu tiên tôi phải công nhận sự tồn tại của y là có ích.

Từ khi nhập học, tôi tham gia tổ chức “Cảnh sát thư viện.”

Như đã kể trước đây, mục đích của “Cảnh sát thư viện” là thu hồi sách mượn quá hạn từ thư viện, có thể nói không từ thủ đoạn, kể cả những hành động vô nhân đạo. Tại sao tổ chức của chúng tôi lại phải mang nhiệm vụ này? “Cảnh sát thư viện” có quan hệ gì với lãnh đạo đại học? Nếu tò mò mấy chuyện này, e là bản thân sẽ gặp nguy hiểm tính mạng.

Nhiệm vụ khác của “Cảnh sát thư viện” là thu thập thông tin tình báo về người mượn sách không trả lại, chắc bạn đọc cũng đoán được, loại thông tin đó dùng được vào nhiều việc hơn là đòi sách. Nguyên gốc lý do của việc thu thập thông tin là để đòi sách. Cần phải biết thói quen sinh hoạt mới dễ dàng đối chọi với mấy thằng trốn chui trốn nhủi. Nhưng dần dần, hoạt động này đã thoát ly mục đích ban đầu. Mạng lưới của “Cảnh sát thư viện” lan rộng ra ngoài trường đại học. Người sống ở Kyoto, từ đền Ohara Sanzen phía Bắc cho tới Phượng Hoàng đường phía Nam cũng đều bị nắm hết thông tin.

Ví dụ như trưởng phòng “Cảnh sát thư viện” vì lý do nào đó muốn phá hoại quan hệ giữa A (con gái hai mươi mốt tuổi) và B (thằng giai hai mươi mốt tuổi, thì chỉ cần búng ngón tay một cái là có ngay thông tin “B đang đi lại với A nhưng thực ra đã có quan hệ với C cùng câu lạc bộ quần vợt rồi, học phần không đủ, rất khó tốt nghiệp.” Sau đó tha hồ dùng C để phá hoại quan hệ giữa A với B.

Để đối chọi với lợi nhuận lớn của “Tiệm in ấn” thì chỉ có “Cảnh sát thư viện.” Nếu như chân tướng của người cầm đầu “Tiệm in ấn” hoàn toàn nằm trong vòng bí ẩn, thì người cầm đầu “Cảnh sát thư viện” được coi là người đứng đầu “Quán Ăn Mèo Hên.”

Tôi vẫn còn là thằng lính mới lẹt đẹt phía dưới , nhiệm vụ là đi thu sách. Nhưng với tính khí của mình, tôi không có khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Nếu gặp người hợp tính, có khi mải hút thuốc uống rượu với nhau mà quên chuyện đòi sách. Nếu không nhờ Ozu, tôi đã chẳng hoàn thành nhiệm vụ được rồi.

Tôi vì lệnh của Ajima-senpai mà bất đắc dĩ cùng làm chung với Ozu, nhưng trình độ của hắn thật đáng khâm phục. Mai phục, cầu xin, cạm bẫy, đe dọa, đánh cắp, hắn xài đủ thứ thủ đoạn để thu hồi sách. Vì là bạn cùng làm với Ozu, thành tích của tôi cũng lên cao luôn. Tôi thấy bực mình vì trong lúc mình đang nghi ngờ tổ chức này thì Ozu cứ tấn tới. Ozu cũng thích thu thập tin tức, mở rộng mạng lưới điều tra tất cả những chuyện kì quái về mọi người.

Mùa xuân lúc chúng tôi lên năm hai, Ajima-senpai trở thành trưởng ban “Cảnh sát thư viện”.

Ajima-senpai muốn tuyển tôi với Ozu làm quản lý, nhưng bất ngờ Ozu cự tuyệt, chạy sang Tiệm in ấn. Ở lại một mình tôi vốn chẳng thiết tha gì công việc, cuối cùng chỉ là quản lý trên danh nghĩa.

Từ đó, Ajima-senpai coi tôi như cục đá giữa đường, không thèm đếm xỉa tới.

Ở lại “Cảnh sát thư viện” ít lâu, tôi gặp một người kì lạ.

Lúc đó là mùa đông năm ngoái.

Có người mượn cuốn “Thần Vô Nguyệt”, hồi kí của một mangaka đã quá nửa năm rồi. Vì đòi sách nên tôi phải tới làm quen. Y ở tại Shimogamo Yuusuishou giống tôi, tên là Higuchi Seitaro. Đó là một người kì lạ, không biết có phải học sinh hay không. Rất ít giao tiếp xã hội. Người mặc yukata xanh, mặt như quả cà tím. Vì ăn mặc quái gở như thế, đáng lẽ phải rất dễ nhận ra mới phải, nhưng cứ cố đến gần là y biến mất như sương khói. Tôi đã từng mất dấu y nhiều lần ở khu mua sắm Demachi cùng với đền Shimogamo.

Một đêm, tôi cuối cùng cũng níu được y ở quán Ramen Mèo.

“Con cứ lẩn quẩn quanh ta hoài vậy hén” Y cười mà nói. “Ta cũng muốn trả sách lắm chứ bộ, có điều là đọc sách chậm quá đi.”

“Nhưng trễ hạn quá mức rồi đó.”

“Ừa, ừa, biết rồi. Ta trả con liền đây.”

Chúng tôi cùng nhau ăn mì.

Tôi bám theo y trở về Shimogamo Yuusuishou. Sau đó y bảo phải đi vệ sinh, rồi bước vào toilet công cộng. Tôi đứng đợi cả buổi vẫn không thấy y ra. Hé cửa nhìn vào, thì toilet trống trơn. Tôi vội chạy lên phòng y trên lầu hai, ở cửa sổ nhỏ có ánh sáng. Thật là kì quái vô cùng.

Tôi đưa tay đập cửa, kêu to “Higuchi-san”, không có tiếng trả lời. Tôi nghĩ chắc hắn chơi mình rồi. Lúc tôi đang ráng gõ cửa thì Ozu, lúc đó vẫn còn làm chung với tôi, đi tới.

“Xin lỗi, người đó là sư phụ tao” Ozu nói. “Bỏ qua cho ổng đi.”

“Như vậy sao được?!”

“Không được đâu. Ổng mà mượn gì rồi là đố mày đòi cho ra.”

Nếu Ozu cũng nhận định như vậy, tôi đành dừng tay. Tôi cũng không biết y là loại sư phụ gì, nhưng được loại người như Ozu tôn kính thì cũng không phải loại gì tốt đẹp.

“Chào buổi tối sư phụ, có cái này xin kính thầy.”

Ozu không để ý tới tôi, bước vào phòng bốn chiếu rưỡi của Higuchi. Hắn quay lại nhìn tôi, chỉ nói: “Thất lễ vậy” rồi nhếch miệng cười.

Hai ngày qua đi, tôi đã băng qua phòng số -3 và số 3.

Vẫn chẳng có gì chuyển biến cả.

Tôi tập hít đất, luyện yoga, uống một vại cà phê lớn, cố nhồi hết castella trong sáu phút, tìm cách chế ra món ăn mới từ bánh kẹp cá và củ cải trắng. Đọc lại “Hai vạn dặm dưới đáy biển”, tới đoạn mô tả những món ăn ngon lành trên tàu Nautilus, nước miếng của tôi thi nhau chảy ra.

Hồi giờ tuy tôi tự giam mình trong phòng, nhưng vẫn có cái cảm giác an toàn do có thể rời đi bất cứ lúc nào. Mở cánh cửa ra là tới cái hành lang dơ bẩn, đi xuống cuối hành lang có cái toilet dơ bẩn, cái tủ giày dơ bẩn, rồi có thể bước ra khỏi ký túc xá dơ bẩn này. Nói cách khác chính là vì lúc nào cũng có thể rời đi, mà tôi đã không muốn ra khỏi nhà.

Bây giờ thì cảnh mê cung bốn chiếu rưỡi xung quanh đã ảnh hưởng thần kinh tôi lắm, cộng với phần ăn thiếu can xi ảnh hưởng tuần hoàn máu. Có đợi bao lâu cũng không có chuyển biến gì. Đã đến nước này chỉ còn cách phiêu lưu mạo hiểu tới tận cùng thế giới tatami này, giải quyết bí mật rồi chuồn ra ngoài thôi.

Sáu giờ vào một ngày cách hôm tôi bị giam trong thế giới quái đản này một tuần, tôi bắt đầu xuất chân du hành. Chẳng biết là ban ngày hay ban đêm, nhưng cứ đi cái đã. Từ cái phòng bốn chiếu rưỡi số 0, có hai hướng có thể đi. Tôi quyết định chọn đi theo đường cửa chính.

Từ đó, tôi băng qua phòng bốn chiếu số 1, số 2, số 3…

Mặc dù nói là đi đến tận cùng thế giới, nhưng cũng chẳng có gì gian khổ lắm. Chỉ là băng qua những căn phòng bốn chiếu rưỡi giống hệt nhau. Không lo gặp bão tuyết, thú dữ, không cần tích trữ lương thực, hay chuẩn bị gì, vì đi đâu cũng là phòng mình. Nếu mệt, ở bất cứ chỗ nào cũng có thể trải chăn bông xuống ngủ. Vấn đề duy nhất là chẳng biết mình đi được bao xa

Nhưng không gặp mãnh thú, cũng không phải không có chỗ đáng sợ.

Ngày đầu tiên, tôi băng qua hai mươi gian phòng bốn chiếu rưỡi. Mặc dù vậy, thiên hà tatami này vẫn chưa chấm dứt. Tự thấy ngu xuẩn, tôi quyết định ngủ đêm lại nơi này.

Ngày thứ ba, tôi tìm ra “thuật luyện kim”

Lúc trước tôi đã nói, ở giữa bàn học với giá sách có khoảng trống. Hôm trước, tôi lục lọi trong khu vực đó coi có gì có ích không, thì tìm được cái ví cũ bị đi đày đã lâu. Bên trong cái ví có tờ tiền một ngàn yên. Tôi ngồi giữa phòng mà vuốt phẳng tờ giấy. Bây giờ ở trong căn phòng cách xa thế giới tư bản này, tờ một ngàn yên cũng chẳng khác gì giấy lộn.

Nhưng khi sang phòng bốn chiếu rưỡi tiếp theo, tôi phát hiện thêm tờ tiền một ngàn yên khác ở trong cái ví khác cùng một cách. Tôi như bị sét đánh. Nếu mỗi gian bốn chiếu rưỡi đều có một ngàn yên, sau đó qua mười gian là mười ngàn yên, rồi một vạn yên, mười vạn yên… Thật đáng ngạc nhiên! Nếu ngày nào đó thoát ra được khỏi nơi này, tôi có thể trả hết tiền học, lẫn sinh hoạt phí. Chuyện chơi bời ở Gion mỗi đêm cũng không phải mơ nữa. Tôi gọi cái này là “thuật luyện kim.”

Từ đó tôi đeo thêm cái ba lô.

Mỗi lần tới phòng mới, đều nhét tờ một ngàn yên trong đó.

Ban đầu tôi cảm thấy rất chán. Nên về sau thời gian rảnh ra đều đọc sách quên đi sự thật, suy nghĩ hoang tưởng, tính lấy sách vở ra học bài thì lại bị định luật Schrodinger hạ gục.

Tự nhiên lời bà thầy bói cứ trở đi trở lại trong đầu. “Đấu trường” là cái gì thế?

Tôi giờ đã tin chắc mình bị bà thầy bói đó nguyền rủa. Chìa khóa giải nguyền chắc là “Đấu trường.” Nhưng mà trong phòng bốn chiếu rưỡi của tôi kiếm đâu ra “Đấu trường” bây giờ. Lúc băng qua những gian phòng bốn chiếu rưỡi, tôi cũng ráng nhìn ngó coi có thấy cái gì na ná “Đấu trường” không, nhưng tìm không ra.

Trên con đường buồn bã này, chốc chốc tôi lại nhớ Mochiguma. Trái tim tôi dần khô kiệt, giá có cái mềm mềm của Mochiguma thì tốt biết mấy. Mochiguma là một con rối hình gấu mềm mềm.

Mùa hè năm ngoái, tôi lượm được Mochiguma ở hội sách cũ Shimogamo. Từ đó nó trở thành trụ cột tinh thần của tôi. Con gấu màu xám mềm mềm, chọc vào cứ như da em bé. Nó cao cỡ một hộp nước trái cây. Cứ cầm nó bóp bóp tự nhiên mặt nở nụ cười. Tôi lấy nó làm vật bất ly thân. Từ khi rời khỏi tổ chức, tôi tự giam mình trong phòng bốn chiếu rưỡi, chỉ có Ozu lui tới. Cuộc sống kiêu ngạo này đôi lúc cũng cần chút giải khuây.

Nhưng chỉ mấy ngày trước cuộc phiêu lưu kì lạ này, Mochiguma mất tích trong một sự kiện thần bí ở tiệm giặt ủi. Mochiguma ở trong phòng bốn chiếu rưỡi của tôi cả năm nên hơi bị dơ, bèn đem đi giặt, khi mở nắp máy giặt lại thấy ai đã cầm nó đi mất, trong máy giặt xuất hiện quần trong dơ dáy của thằng nam nhi nào đó. Khi kiểm tra lại thì mấy cái quần trong cũ sờn giặt không sạch đó lại đúng là loại mình thường dùng. Lúc đó tôi nghĩ: hay Mochiguma chỉ là ảo tưởng thôi, từ đầu tôi chỉ đến để giặt quần áo. Có khi nào tôi vì chán ghét chuyện giặt quần áo mà tự bịa trong đầu con gấu Mochiguma ảo tưởng đó không? Thật là bệnh quá.

Nhưng khi tôi về đến nhà, quần lót của mình vẫn còn y xì. Tự nhiên số lượng quần lót lại tăng lên gấp đôi, chẳng biết làm sao. Bí ẩn đó vẫn chưa giải được. Mochiguma đáng yêu của tôi biến đi đâu mất.

Ôi, Mochiguma đã lưu lạc phương nao?

Khi đi loanh quanh không mục đích trong mê cung bốn chiếu rưỡi, đó là những gì tôi nghĩ tới.

Ban đầu tôi định sẽ đếm số phòng bốn chiếu rưỡi đã bước qua, nhưng nhanh chóng phải bỏ cuộc.

Mở cửa đi vào căn phòng bốn chiếu rưỡi số n, mở cửa sổ bước qua phòng n+1, sau đó bước qua cửa đến phòng n+2, rồi lại mở cửa sổ… Tuy rằng mỗi phòng tôi kiếm được một ngàn yên, nhưng không tìm được lối ra nên càng trở nên tuyệt vọng. Nếu không trốn đi được, thì có thu thập được cả ngàn tờ cũng chỉ là giấy vụn thôi. Nhưng dù tiền có sụt giá thế nào tôi cũng tiếp tục thu nhặt, hoặc là tinh thần kiên định hoặc là không biết đối chọi thế nào nữa.

Tôi ăn cả đống castella lẫn bánh kẹp cá, tiếp tục hành quân trong cô độc. Trong đầu tự nhiên nảy ra suy nghĩ: không biết chừng tôi phạm phải tội lỗi gì đó nên bị tống xuống địa ngục này rồi. Những chuyện đáng xấu hổ trong đầu cứ thế lướt qua, nhục nhã muốn chết. Tự nhiên hét một mình: “Tao rớt xuống địa ngục cũng đáng.”

Cuối cùng kiên nhẫn cũng mất hết, tôi nằm lại trên chiếu tatami nửa ngày, không bước đi đâu, ngồi đọc mải mê “Hanshichi Torimono-Chyo”, trốn tránh sự thật, uống whiskey tới say mềm, hút thuốc lá khói bay đầy phòng rồi hét lên trần nhà: “Vì sao tao lại rơi vào cảnh này hả trời!” Trời không trả lời tôi cũng chả thèm chấp, cất giọng hát ông ổng. Cũng chẳng ai trách móc gì. Tôi cởi sạch quần áo trần truồng sơn cả người màu hồng, chạy rông miệng lớn tiếng chửi bới những lời tục tĩu từ cha sinh mẹ đẻ chưa nói ra bao giờ, cũng chả sao cả. Nhưng dù ở một mình, lý trí vẫn hoạt động, nên tôi từ bỏ. Dù chẳng biết lí trí chừng nào thì đứt phựt luôn.

Nhưng hành trình khó khăn này không phải không phát hiện được điều gì. Tôi nhận ra những căn phòng bốn chiếu rưỡi dù giống hệt nhau nhưng vẫn có chỗ khác biệt. Đó là ngày thứ mười trong hành trình của tôi. Dù khác biệt không lớn, nhưng tủ sách trong phòng tôi có thay đổi. Tôi muốn lục “Hashichi Torimono-Chyo” ra coi tiếp, nhưng phòng này không có cuốn đó.

Điều này có nghĩa là gì? Tôi ngẫm nghĩ thật lâu, nhưng không tìm được câu trả lời.

Sau đây tôi sẽ kể chuyện vệ sinh trong thế giới bốn chiếu rưỡi tatami.

Đối với người ghét giặt quần áo như tôi mà nói, chuyện không cần giặt quần áo thật là đáng cảm ơn trời đất. Vì phòng nào cũng có quần áo, nên tôi chỉ đơn giản cởi quần áo bẩn ra đổi quần áo sạch. Ngày nào tôi cũng thay quần lót, nên từ lúc bị lạc trong thế giới không có tiệm giặt là nào thế này, tự nhiên lại hóa sạch sẽ, lúc nào cũng mặt quần lót mới.

Ban đầu tôi còn cạo râu, nhưng sau đó thấy phiền quá, nên bỏ luôn. Dẫu sao cũng không ra ngoài, cạo râu làm gì. Tóc cũng để dài. Thật chẳng khác gì Robison lạc vào hoang đảo.

Râu tóc thì chẳng sao, nhưng thân thể bẩn thỉu làm cả người thấy rất khó chịu. Khu nhà Shimogamo Yuusuishou của tôi có phòng tắm nhét xu ở cuối hành lang, nhưng giờ khái niệm hành lang trở nên rất xa vời, phòng tắm cũng không xài được. Đành phải nấu nước sôi đổ vào bồn nước rồi dùng khăn ướt lau chùi thân thể. Tôi giả bộ vui vẻ vừa tắm vừa hát, nhưng rốt cuộc chỉ thêm buồn.

Không có chuyện gì đáng nói nữa, nên tôi chỉ có cách trầm tư suy nghĩ, nhớ lại hai năm đã chẳng làm được trò trống gì, vô cùng hối hận.

Lên năm thứ hai, vì không còn cộng tác với Ozu nữa, tôi trở thành quản lý vô dụng nhất lịch sử “Cảnh sát thư viện”, tiếng xấu đồn xa. Tôi hy vọng được xóa tên, nhưng chẳng dễ gì. Hơn nữa Ozu ở “Tiệm in ấn” cũng đạt được những thành tích chói lọi, tôi nghĩ rằng “Cảnh sát thư viện” có e dè quan hệ giữa hắn với tôi nên chưa dám mạnh tay.

Tôi gặp Ozu, bảo nó “Tao đang tính nghỉ”, thằng nhỏ chỉ cười mà nói “Cứ chờ đi biết đâu có gì hay ho.” Lên năm thứ hai tôi càng hết mức chịu đựng. Vì là quản lí nên tôi cũng phải tham dự những cuộc họp hành bí mật, tham gia đủ loại âm mưu, nhưng với trưởng ban là Ajima-senpai, quan hệ càng lúc càng mờ nhạt. Tôi tính nước bỏ trốn, làm một cú thật hoành tráng để thể hiện tinh thần phản kháng ghi vào lịch sử của “Cảnh sát thư viện.”

Mùa thu năm hai tôi uống với Ozu, vô tình lộ ra kế hoạch của mình, y nói: “Tao nghĩ mày không nên làm thế. Dù trông chỉ như chơi bời trong trường thôi, mạng lưới tình báo của “Cảnh sát thư viện” là thật, mày sẽ bị Ajima-san nghiền nát cho coi.”

“Ai sợ hắn chứ!”

Ozu nghịch ngợm Mochiguma tôi nhặt được ở hội sách cũ, rồi bóp chặt lấy nó.

“Nếu mày thành ra thế này, tao đau lòng lắm.”

“Phịa!”

“Bây giờ mày bị tai tiếng dữ lắm, tao phải bao bọc cho mày suốt.”

Lúc bấy giờ gió thu se lạnh thổi đến bên nồi lổi sôi ùng ục. Tôi thấy chuyện sai trái nhất lại là qua đêm với Ozu ở đây. Con người không nên sống như vậy. Đây không phải là lúc kẹt vào cái tổ chức kì quái nào đó rồi than thở cả ngày. Bên ngoài tổ chức, cuộc đời bình thường đang vẫy gọi.

“Tao muốn trải qua cuộc sống bình thường đôi chút.”

Ozu nói. “Dạo này mày lạ thế. Cảm nắng em nào rồi phải không?”

“Tao không làm mấy chuyện đó.”

“Lại giận dỗi à? Thế chuyện làm thêm ở hội sách cũ Shimogamo thì sao? Theo tao thấy thì mày đang muốn đợi cái gì đó ở đó đúng không?”

Tôi vênh mặt cóc thèm để ý.

“Hồi đó đáng lý tao nên chọn đường khác.” Tôi xụi lơ nói. “Vì một sai lầm nhỏ mà rơi vào cảnh này, gặp thằng khốn bệnh hoạn như mày.”

“Cái này không dễ nghe lắm, nhưng tao nghĩ mày chọn đường nào rồi cũng gặp tao thôi. Trực giác mách bảo đó. Sau đấy dẫu thế nào tao cũng dồn hết sức khiến cho mày thành vô dụng. Định mệnh nó thế đấy.” Ozu giơ ngón trỏ lên. “Vì tao với mày được nối với nhau bởi sợi chỉ đen của số phận.”

Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh kinh hoàng hai thằng giai bị quấn với nhau như chả giò bởi một sợi chỉ đen, cùng nhau chìm xuống vực nước đen tối, liền lạnh toát cả người. Ozu thấy tôi như vậy, vừa ăn vừa tỏ ra khoái trá. Thằng thối nát này không khác gì yêu quái. “Ajima-san thật phiền quá” Ozu nói. “Tao đã qua Tiệm in ấn rồi, hắn còn cứ muốn thương lượng.”

“Cái loại người như mày, sao thiên hạ lại khoái chứ?”

“Vì tao có nhân cách hoàn mĩ, thông minh tài trí, gương mặt khả ái, tình yêu con người. Mày không học được gì về tao hả?”

“Láo! Láo toét!”

Khi tôi nói thế Ozu liền bật cười.

Trầm tư chuyện cũ đã qua, tôi tiếp tục hành trình qua mê cung bốn chiếu rưỡi.

Trên đời có khái niệm gọi là “Địa chất niên đại”, có nghĩa là thời đại trước có thể chia thành thời Nguyên sinh, thời Cổ sinh, thời Trung Sinh, Đại Tân Sinh, rồi tới thời hiện đại. Tôi nghe nói ở thời Cổ sinh bắt đầu xuất hiện nhiều loại sinh vật, rồi diễn tới sự bùng nổ Cambri. Tới thời Trung Sinh gồm có kỉ Jurassis rồi kỉ Phấn trắng, tôi nhớ lại cảm xúc phấn chấn lúc trước khi xem các loại hình ảnh khủng long.

Cuối thời Cổ sinh có một thời gian gọi là Kỉ nhị điệp.

Khi nghĩ tới cái tên này, tôi hình dung ra khắp bề mặt địa cầu được bạo bọc bởi những phòng hai chiếu Tatami. Sang đến thời Trung Sinh, phòng ba chiếu Tatami xuất hiện, thế giới đi vào “Kỉ Tam Điệp”. Nhưng sau đó khủng long xuất hiện, giẫm nát mấy tấm chiếu Tatami, thế giới tiến vào tời Jurasis.

Tôi cho rằng thế giới lúc này đã biến thành phòng bốn chiếu rưỡi hết rồi. Thời Tân sinh đã kết thúc, thế giới tiến vào Kỉ Tứ Điệp Bán. Trong thế giới mới này chỉ còn tôi lưu lạc, cùng với con ngài vo ve trên trần nhà. Chẳng còn đa dạng sinh học gì cả.

Là con người cuối cùng, tôi tiếp tục lang thang qua thế giới bốn chiếu rưỡi này. Nếu muốn thành thời đại mới kiểu Adam và Eva, nhưng không có Eva thì chẳng nên trò trống gì.

Cứ bước đi căm phẫn như thế, cuối cùng bất ngờ tôi lại gặp Eva.

Ngày thứ hai mươi trên đường đi.

Cũng không biết là qua phòng thứ mấy rồi, nên cứ ghi là phòng bốn chiếu rưỡi K đi. Đi đã nửa ngày, chẳng mấy chốc đã thấy mệt. Tôi dừng lại nghỉ ngơi, ăn castella mà tôi đã ngán tận cổ.

Căn phòng bốn chiếu rưỡi bên cạnh, đèn neon hình như sắp hư, cứ chập chà chập chờn. Đôi khi tôi cũng gặp những gian phòng hỏng đèn tối tăm, gọi là “thế giới mây đen”, vì thấy ghê ghê nên ráng bước qua cho nhanh.

Tôi kéo cửa kính bước sang phòng bên kia. Có người ngồi ở một góc, đương đọc sách.

Hai mươi ngày đã qua, tôi không thấy ai, không nói chuyện với ai, tự dưng lại thấy dáng người, thay vì vui mừng lại thấy sợ hãi. Có thể nói tim muốn rớt ra luôn.

Đó là một cô gái đang đọc sách. Nàng cúi đầu im lặng, chăm chú nhìn vào cuốn “Hai vạn dặm dưới đáy biển” trên đùi, mái tóc mượt mà chảy xuống. Tôi mở cửa ra mà nàng cũng không phản ứng gì, thật quá sức dũng cảm, còn e là phù thủy thống trị thế giới này. Tôi mà không khéo coi chừng sẽ bị gói làm bánh ăn.

“Xin lỗi, đã làm phiền” giọng tôi khàn đục.

Nhưng tôi có nói gì, cô gái đó cũng không phản ứng.

Tôi ngập ngừng bước vào phòng tiến tới gần nàng. Gương mặt của nàng thật vô cùng khả ái. Màu da nàng cũng giống như màu da người, động vào có cảm giác đàn hồi. Mái tóc đen được chải chuốt cẩn thận, tranh phục không có một vết nhăn. Trông như một người con gái có xuất thân cao quý. Nhưng nàng không hề chuyển động. Nhìn từ đằng xa trông nàng như một con người bị đông cứng trong khoảnh khắc.

“Đây chẳng phải Kaori-san sao?”

Tôi run lẩy bẩy.

Mùa thu năm ngoái kết thúc.

Vì sao trưởng ban “Cảnh sát thư viện”, Ajima-senpai lại làm chuyện động trời như vậy? Ai cũng thấy hoài nghi. Để lật đổ chủ tịch hội điện ảnh Misogi mà Ajima-senpai lại dùng “Cảnh sát thư viện”. Nạn nhân của vụ này là Jougasaki, một học sinh năm trên nắm giữ quyền lực ở câu lạc bộ điện ảnh Misogi.

Nghe nói giữa Ajima-senpai và Jougasaki có bất hòa cá nhân gì đó, vì Jougasaki muốn được con gái ngưỡng mộ mà nắm lấy quyền lực của câu lạc bộ Misogi. Vì lý do gì đó mà Ajima-senpai lại muốn lật đổ Jougasaki.

Bước đầu tiên là thu thập thông tin tình báo. Bằng mạng lưới tình báo trải khắp trường, thông tin về Jougasaki được thu thập. Có cả một tấm hình của Kaori-san. Ở hội nghị bàn cách lật đổ Jougasaki, bức hình của Kaori-san được chuyền tay.

“Đây là đích ngắm, Kaori ấy.”

Vì muốn lật đổ Jougasaki mà Ajima-senpai đã lập ra một kế hoạch vô cùng đê tiện: là bắt cóc con búp bê tình yêu Kaori-san mà Jougasaki hết sức yêu quý. Nếu có nó trong tay, thì dễ dàng điều khiển Jougasaki.

Kế hoạch tiến hành vào ban đêm.

Vào ngày kỉ niệm thành lập trường, lễ lạc kéo dài tới khuya. Jougasaki vì bận bịu câu lạc bộ nên chưa về kí túc xá. Mấy thằng “Cảnh sát thư viện” như tôi đây bất đắc dĩ tập hợp ở đền Yoshida. Sau đó một gã gọi là “Mở khóa” tới, chúng tôi đi đến ký túc xá của Jougasaki.

Kế hoạch ban đầu là nhanh chóng mở khóa vào phòng trộm Kaori-san ra, nhưng kế hoạch này suýt bị phá hỏng ở trước cửa phòng của Jougasaki, do một gã giai biết rằng mình đang phạm pháp mà sợ hãi, thiếu cả lòng trung thành lẫn đức dũng cảm. Chính là tôi đây.

Tôi không biết xấu hổ bám chặt tường mà nói: “Tôi kệ, không làm đâu.” Hơn nữa đám “Cảnh sát thư viện” cũng có ý do dự. Vì sự tự trọng cao độ của tôi mà kế hoạch của Ajima-senpai gần như đổ sông đổ biển.

Lúc này, Ajima-senpai tự nhiên xuất hiện, mắng: “Chúng bay cãi vã cái gì.”

Lúc này đám thuộc hạ liền chia hai phe. Một là phe nhất quyết tiếp tục kế hoạch, phe kia muốn chạy trốn. Đương nhiên tôi là phe chạy trốn. Nhưng thay vì chạy trốn, gọi là rút lui chiến lược nghe hay hơn.

Tôi chạy vào bóng đêm, quẳng lại câu: “Ai thèm làm chuyện ngu si như thế.” Mắt của Ajima-senpai lóe sáng như rắn độc. Tôi nghĩ sẽ bị giết mất. Tôi trốn chui trốn nhủi trong sân trường, hối hận vì đã nói chuyện không nên nói.

Sự chống cự của tôi là vô ích, Kaori-san vẫn bị bắt cóc. Tối đó ở nơi trao đổi, Jougasaki quỳ xuống lạy lục Ajima-senpai. Vài ngày sau, Jougasaki rời bỏ câu lạc bộ mình sáng lập, vốn không chịu buông tay, giao lại cho Ajima-senpai. Trước đám đông nghe nói y ngợi khen ca tụng Ajima-senpai, dù trong lòng vô cùng thê thảm.

Tôi vô cùng căm phẫn.

Ajima-senpai, trưởng ban cảnh sát thư viện mà làm vậy sao!

Tôi lập tức hành động. Tôi mau chóng chui vào chỗ trú ẩn Ozu chuẩn bị sẵn để tránh bị Ajima-senpai bắt được.

Ngày hôm đó, tôi ở lại căn phòng bốn chiếu rưỡi số K.

Đến ngày hôm sau, tôi cũng không muốn đi tiếp. Vừa gãi râu tóc, tôi vừa uống cà phê nhìn bức tường bẩn thỉu đằng sau Tivi vừa nghĩ ngợi.

Lúc đó một ý tưởng chợt lóe lên.

Hai mươi ngày qua, tôi chỉ đi ra đi vào cửa chính cửa sổ. Rõ ràng cứ như vậy không có gì thay đổi. Sao không thử đánh vỡ tường. Biết đâu lại có đường thoát? Ở bên cạnh phòng tôi là mấy đứa du học sinh, dù tôi có đánh đổ tường, thì chắc là đại biểu nhân dân từ đại lục cũng sẵn sàng mỉm cười tha thứ chứ.

Nghĩ như vậy, tự nhiên tôi thấy tinh thần phấn chấn lên.

Tôi kiểm tra vách tường cẩn thận. Vách tường ký túc xá ọp ẹp như phông màn sân khấu. Bình thường mấy du học sinh bên đó âu yếm nói chuyện trên giường, tôi đều nghe được cả. Lúc tôi mở máy lạnh, hơi lạnh sẽ lẻn qua người ở phòng 109, rồi thấm qua phòng 108, rồi 107 106 đều được mát mẻ. Vì cuộc sống hạnh phúc của cả tầng trọ, tôi một mình hứng hóa đơn tiền điện kếch xù.

Nhưng tường mỏng thế này, hóa ra cũng có lợi.

Tôi giả bộ hít đất với tập yoga xong, nắm cờ lê nện vào tường. Vách tường bắt đầu lõm xuống, xuất hiện vết nứt. Tôi có cảm giác mình hóa thành Hercules, gõ điên cuồng, sau đó chậm dần. Rồi dùng sức đá văng phần tường mẻ, tôi mở được một cái lỗ cỡ mười lăm centimet trên tường. Nhìn qua bên kia có ánh đèn huỳnh quang le lói.

“Được rồi!”

Tôi hùng hổ đẩy tường xông qua phòng bên cạnh.

Nhưng bên cạnh phòng, cũng là một gian phòng bốn chiếu rưỡi y chang.

Sau đó tôi như hóa khùng, tiếp tục phá vách tường, cố gắng ném hư trần nhà, mở cửa rồi đóng cửa, liếm nước tương, mở cửa sổ, ngủ vùi hết hai ngày, uống tới nôn mửa, rồi lại tiếp tục phá vách tường. Tôi vẫn tiếp tục đọa đày trong cái mê cung bốn chiếu rưỡi.

Sau ngày thứ hai mươi, tôi bắt đầu ghi nhật ký, đây là đoạn trích. Tuy nhiên, cũng phải nói khái niệm ngày cũng tương đối thôi. Tôi không chia thời gian chính xác, khi nào thức dậy thì coi như một ngày.

Ngày thứ hai mươi bốn.

Hai giờ chiều thức dậy. Ăn sáng bằng cà phê trộn muối cùng với thuốc vitamin. Hôm nay chẳng biết phá được bao nhiêu bức tường. Bức tường chắn giữa những phòng bốn chiếu rưỡi rất ọp ẹp, có phá hư cũng chẳng sao. Phá tường cũng vui. Như là nhìn thấy tia hy vọng phía bên kia. Nhưng chỉ là mộng hão. Mà thế giới bốn chiếu rưỡi vô tận này cũng chắc là mơ mà, nên có sao đâu? Mộng, mộng là cái gì? Giấc mộng của tôi. Cuộc sống đại học có ý nghĩa màu hồng chăng?

Nghĩ những chuyện này khiến càng buồn bực, nên ăn bánh kẹp cá uống whiskey rồi ngủ luôn. Trong giấc mơ cũng thấy mình ăn bánh kẹp cá. Tỉnh dậy cũng ăn bánh kẹp cá. Người tôi bây giờ chắc chỉ làm bằng castella với cá.

Ngày thứ hai mươi lăm.

Bốn giờ thức dậy. Hôm nay chẳng có chút động lực, chỉ di chuyển chút xíu. Chỉ ngồi uống whiskey. Thực buồn là lại quen với mùi vị khó uống này rồi.

Ngày thứ hai mươi bảy.

Tôi thấy hình như sức khỏe tốt hơn, cơ thể cường tráng. Nhưng làm sao mà không ra khỏi phòng bốn chiếu này cơ thể lại cường trán được? Đại khái là nhờ ngày ngày đều đi phá tường, và do buồn bực mà tập yoga tự chế. Nhưng yoga chính thống thì phải làm thế nào đây? Dù tôi chỉ tự chế ra động tác yoga, nhưng biết đâu còn linh nghiệm hơn yoga chính thống. Khi nào rời khỏi đây, tôi sẽ truyền bá cái tư thế yoga tự chế ra toàn thế giới.

Ngày thứ ba mươi.

Ngày hôm nay khi băng qua một phòng bốn chiếu đã phát hiện ra một thứ thú vị. Một cái hộp gỗ nhỏ, mở ra có cái bàn chải mai rùa. Tôi thử đem nó cọ rửa bệ nước, thì thấy không cần thuốc tẩy vẫn dễ dàng tẩy vết bẩn. Đây quả là một cái bàn chải phi thường. Tôi chỉ đi qua phòng này, nhưng thấy thú vị quá, nên tiếp tục chà cái chậu rửa sáng bóng. Rõ là việc ngu ngốc.

Nhưng nhìn lại, dù mỗi căn phòng bốn chiếu rưỡi đều giống nhau, tại sao lại có những điểm sai khác? Kaori-san tôi gặp mười ngày trước cũng như thế. Nhìn kĩ phòng nào cũng là phòng tôi, nhưng sao lại có những khác biệt nhỏ đó? Tôi không có tiền mua thứ ấm ớ như búp bê tình ái, cũng có mua cái bàn chải mai rùa kì diệu đó đâu.

Quả là bí ẩn.

Ngày thứ ba mươi mốt.

Thức dậy lúc ba giờ.

Bây giờ là ngày hay đêm? Ai nói cho tôi biết được? Ai nói cho tôi, tôi sẽ tặng ba ngàn yên. Hôm nay tôi vừa đi vừa bực. Đã quyết định tạm ngừng chuyện phá tường, chỉ leo cửa mà đi thôi. Nhưng đi một chút lại bắt đầu phá tường.

Ngủ trưa một chút, tôi lại nằm mơ.

Tôi thấy ở giữa mê cung bốn chiếu rưỡi là Vạn lý trường thành sừng sững. Lúc đó không hiểu sao tôi leo qua được dễ dàng – mà chắc cũng không có gì lạ, vì đang nằm mơ mà. Vạn lý trường thành có thể được trông thấy từ vũ trụ, nếu không phải mơ tôi cầm chắc không leo qua được. Bên kia tường tôi thấy Ozu đang nướng thịt bò. Tôi chuẩn bị sà xuống ăn thịt bò hành muối, y đã cố ý chơi khăm ăn sạch hết. Lúc đó tôi choàng tỉnh, chửi Ozu hết lời. Đồ khốn! Ngay cả trong giấc mơ cũng đáng ghét! Nhưng thực tình là lòng tôi bắt đầu nhớ nhớ Ozu.

Thần thánh nào ngự trị ở thế giới bốn chiếu rưỡi này ơi! Ban thịt cho tôi với! Không, không cần xa vời, cà tím nướng cũng được, chút nước sốt thịt cũng được, hay hành tây nướng nửa sống nửa chín cũng tốt.

Ngày thứ ba mươi bốn.

Ngày hôm nay dừng chân sớm, mà nấu ăn. Tôi nghiền castella ra nấu chung với bánh kẹp cá, thành một thứ có mùi vị kì quái, nhưng dẫu sao cũng là mùi vị mới. Có điều khó mà gọi là ngon được. Cà phê tôi uống không chán, nhưng có chất dinh dưỡng gì đâu. Vì thực đơn thiếu rau nên tôi phải ráng uống vitamin. Tôi muốn ăn đồ ăn có chất dinh dưỡng. Tôi muốn ăn rong biển.

Tôi gội đầu bằng nước lạnh rồi đi ngủ. Tại sao gội đầu nước lạnh rồi thì tâm tình trở nên buồn phiền như thế? Tôi nằm khóc, vì thế nên giảm căng thẳng đi.

Ngày thứ ba mươi tám.

Tôi nghe nói khi gặp nạn nên ở nguyên một chỗ đợi cứu nạn, nhưng tình huống này ai sẽ đi kiếm tôi đây? Mà bây giờ tôi làm sao mới phải? Thế giới biến mất rồi ư? Hay chỉ có mình tôi biến mất?

Nếu chỉ có mình tôi lạc vào thế giới này, ở thế giới ban đầu hẳn một tháng đã qua rồi? Đã tháng sáu rồi nhỉ? Thành ra giống Urashima Taro[5] rồi. Ít ra Urashima Taro còn lưu lại dưới thủy cung. Người nhà chắc đang kiếm tôi. Tôi thương ba mẹ quá. Nhưng Ozu sẽ không thèm đi kiếm tôi đâu. Hắn chắc đang chơi bời với mấy em gái lớp dưới, chỉ nói: “Kệ thằng đó đi đâu thì đi.” Chắc chắn là thế. Tôi còn thù hắn cái vụ thịt bò trong mơ lắm.

Ngày thứ ba mươi chín.

Tôi thầm nghĩ, nếu không trốn thoát khỏi nơi này được thì phải làm sao đây? Tôi phải sống như là người tiên phong khai phá thế giới bốn chiếu rưỡi này. Tôi sẽ sáng chế ra những món đa dạng phong phú ngon lành từ castella với bánh kẹp cá, bắt đầu nuôi cấy nấm hương, rồi dẹp mấy bức tường ra làm rạp chiếu phim, tiệm bowling, trung tâm điện tử giải trí đa phương tiện, thành một cõi địa đàng trần gian.

Thật là vô cùng hào hứng.

Hào hứng đến thế, sao tôi lại khóc.

Trên đường đi gian khổ, vấn đề lớn nhất là đồ ăn.

Tôi thèm ăn cơm. Dù là cơm nắm ở cửa hàng tiện lợi cũng tốt. Cơm nguội ngắt cứng khô cũng tốt. Nói chung tôi thèm cơm. Nếu có thể ăn cơm trắng mới nấu xong, tôi sẽ cảm động muốn khóc.

Tôi muốn ăn canh miso, natto, trứng luộc, trứng rán, trứng hấp, cơm thịt bò, cơm trứng gà, cơm lươn, các loại cơm, gà nướng, cá nước, mì thịt nướng, mì vịt tiềm, bánh bao hấp Trung hoa, gà quay, cơm đậu đỏ, salad rau quả, dưa gang, dưa hấu, dưa chuột, dưa chuột ăn với miso, cà chua ướp lạnh, lê, táo, cam, quýt.

Tôi cứ thèm ăn đủ thứ không thể có trong thế giới bốn chiếu rưỡi như thế, ngày ngày đuổi theo ảo ảnh các loại đồ ăn.

Thèm nhất vẫn là Ramen Mèo.

Quán “Ramen mèo” là một xe bán mì rong, có tin đồn chủ quán dùng mèo nấu nước dùng. Dù chuyện đó không biết là đúng hay sai, mùi vị của mì không gì sánh nổi. Hồi tôi còn có thể tự do ra ngoài, đêm đến vẫn hay ra đó ăn.

Cái thế giới mà người ta có thể nửa đêm đi ăn ramen Mèo…

…quả thật là “Thiên đường.”

Ngoài chuyện nấu ăn tôi còn thèm một chuyện nữa.

Ngày nào cũng lấy khăn ướt lau mình, thấy rất bất mãn. Muốn nhảy ùm xuống bể tắm công cộng, cho nước ấm tràn lên ngực mà thư giãn thân thể. Tôi nhớ ở phía tây đại lộ Kamo có một nhà tắm công cộng cũ, trang bị rất tốt, hồi có hứng tôi vẫn hay tới đó. Mới buổi chiều tối, đến nhà tắm, vén rèm bước vào, bên trong ngoài mình không có ai, sung sướng như lên tiên.

Thật là nhớ muốn chết.

Một ngày tôi chịu không nổi, nên không tiếp tục đi mà dừng lại thử làm bồn tắm.

Tôi móc trong tủ ra mấy cái thùng giấy cũ, trút hết đồ đạc ra. Dùng thùng cạc tông làm nguyên liệu, mất hai giờ chế ra bồn tắm. Vì nấu nước trong ấm nên không thể đổ đầy ngay tức khắc. Chiều cao thùng thì tôi ngồi xổm xuống cũng vừa. Không thể trực tiếp đổ nước vào nên mặt trong tôi lót bằng bao rác nhựa không thấm nước. Nấu nước bằng ấm xong tôi đổ vào. Cứ lặp đi lặp lại như thế.

Sau đó tôi ngâm mình vào bồn tắm. Nhưng nước đã lạnh. Hơn nữa không thể ngâm cả người, càng thấy bất mãn. Hơn nữa bồn tắm cạc tông chật chội không xoay trở người được, thật thảm hại. Bồn tắm đổ sập, nước tràn ra ngoài.

Làm chuyện ngu ngốc thế này thật đau đớn. Không có ai chế giễu tôi khi làm chuyện ngu ngốc đến thế, càng đau đớn hơn. Nếu Ozu có ở đây, y hẳn sẽ chế giễu tôi:

“Mày làm cái trò gì thế? Não sinh dòi rồi hả?”

Chắc là y sẽ nói như thế đó. .

Một buổi sáng, tôi thức dậy, cảm thấy có ai lấy chổi quét lên mặt. Mở mắt ra nhìn thấy trong ký túc xá đầy ngài bay lượn. Tôi hoảng sợ ngồi dậy. Bình thường phòng nào phòng nấy chỉ có một con ngài bay vo ve trên trần, bây giờ đã tụ thành một đàn lớn. Nguyên nhân là do tôi phá tường, nên lũ ngài bay theo. Tôi nhìn lại thấy phòng bốn chiếu rưỡi đầy ngài, đen kịt.

Tôi vớ lấy ba lô, trèo qua cửa, đóng sầm cửa sổ lại.

Dù chỉ là con ngài, hẳn cũng thấy cô đơn nên mới tụ nhau thành đàn. Cùng nhau trao đổi tâm tình, đã biết là cùng một giống. Sau đó tiếp tục bay từ phòng này sang phòng khác mà gọi nhau nhập bọn. Thật đáng ngưỡng mộ.

Tôi thở dài.

Lũ ngài kia có thể cùng nhau nói những chuyện tục tĩu, có thể tranh cãi nảy lửa, có thể nói lời thương yêu, thậm chí có thể xếp bằng rung đùi cười nhạo những đứa nói chuyện tục tĩu tranh cãi nảy lửa nói lời thương yêu kia. So với tôi, chỉ có thể ảo tưởng nói chuyện tục tĩu một mình, rồi tự cười chính mình. Ban đầu tưởng cuộc sống ở thế giới này không có gì khác, thực chất rất đơn độc.

Chứng kiến bạn cùng nhà – lũ ngài kia, có nhau mà hưởng thụ cuộc sống bốn chiếu rưỡi này, làm tôi càng thêm cô đơn.

Kể tiếp câu chuyện mùa thu năm ngoái.

Sau khi trốn khỏi kế hoạch bắt cóc Kaori-san, tôi trốn chui trốn nhủi, người run lên bần bật.

Nếu rõ ràng tỏ ý phản kháng như vậy, chắc chắn Ajima-senpai sẽ sử dụng “Cảnh sát thư viện” nghiền nát tôi. Những bí mật đáng xấu hổ trong đời tư của tôi sẽ bị dán lên bảng thông báo, đi đến đâu cũng bị cười nhạo, sau đó bị bắt cóc, toàn thân sơn hồng, rồi bị ném xuống sông.

Theo như Ozu nói, Ajima-senpai cùng bè lũ đang lùng sục tìm chỗ trú ẩn của tôi. “Ajima-san có vẻ đang rối lắm” Ozu nói. “Tiệm in ấn cũng cho rằng nên giải quyết việc này.”

Tôi không dám rời khỏi chỗ trú thân nửa bước.

Nơi tôi trú ẩn chính là căn phòng bốn chiếu rưỡi của gã Higuchi Seitaro hồi trước tôi từng nhiều lần đòi sách. Ban đầu tôi không muốn nghe theo đề nghị của Ozu mà trốn ở Shimogamo Yuusuishou lắm. Tôi muốn cao chạy xa bay ra khỏi Kyoto, tới khi sóng yên bể lặng mới trở về.

“Mày trốn ở đây mới tốt. Nơi nguy hiểm nhất là nơi an toàn nhất mà.”

Vì nghe lời Ozu, tôi mới trốn lại phòng Higuchi Seitaro.

Cả ngày tôi mê mải chơi thủy chiến tự chế với Higuchi. Dẫu sao thì đời sinh viên tôi te tua hết rồi, có mê đắm chơi bời cũng chẳng sao. Ozu nhiều ngày liền không thấy đâu. Khi tôi vừa chơi vừa u ám, Higuchi rút xì gà ra an ủi tôi:

“Sẽ ổn cả thôi con à. Ozu nó nhất định sẽ giải quyết ổn thỏa.”

“Lỡ nó bán đứng con thì sao?”

“Cái đó cũng có khả năng” Higuchi vui vẻ nói. “Vì thằng nhỏ đó hành động bất chợt lắm.”

“Đừng giỡn chứ!”

“Nhưng nó đã dũng cảm nói rằng, dù bản thân có gặp chuyện gì cũng sẽ che chở cho con.” ※

Năm mươi ngày trôi qua. Nghe cũng thật khó tin, bây giờ ở bên ngoài hẳn là giữa mùa hè rồi.

Hơn một ngàn hai trăm giờ, tôi chỉ ăn castella, bánh kẹp cá, củ cải trắng, vitamin cùng uống cà phê. Không thấy mặt trời. Không hít thở không khí trong lành. Không trò chuyện với ai. Cả cái bí kíp giả kim kia cũng chán ghét vô cùng, không còn hào hứng đi thu thập tiền giấy một ngàn yên nữa. Đôi lúc muốn vứt bỏ cả bao tiền lại sau lưng.

Thế giới gì thế này? Thế giới gì vậy?

Bề mặt thế giới như hóa thành phòng bốn chiếu rưỡi hết. Không có ngày đêm. Không mưa không gió. Chiếu sáng thế giới chỉ có ánh đèn huỳnh quang le lói. Chỉ có sự cô độc làm bầu bạn, tôi nhắm mắt nhắm mũi đi đến tận cùng thế giới. Phá hư vô số bức tường. Mở vô số cửa sổ. Bước qua vô số cửa chính.

Đôi khi dừng lại ở cùng một phòng nhiều ngày, đọc sách, ca hát, hút thuốc. Nhiều lúc tôi phát chán hành trình, muốn kệ mẹ thế giới ra sao thì ra. Nhưng nằm dưới bốn bức tường, thấy nhân loại tựa hồ chết sạch, yên tĩnh đáng sợ, nhìn chăm chăm lên trần nhà, lại vô cùng sợ hãi. Dù có làm gì cũng không quên được sợ hãi. Tôi chế ra đủ loại thức ăn từ nguyên liệu hạn chế, gấp giấy không ngừng, hết hạc giấy tới hình nhân, thỏa mãn Johnny, viết lách, tập hít đất, lại thỏa mãn Johnny, làm ná bắn, chơi bắn thun, làm kiểu gì cũng khiến tôi thêm buồn bã.

Từ mùa thu năm ngoái nghỉ sinh hoạt ở “Quán Ăn Mèo Hên”, cả ngày chúi đầu trong phòng bốn chiếu rưỡi nửa năm, tôi đã nghĩ mình chịu được sự cô đơn. Thật quá sức nông cạn. Trước đây tôi không cô đơn. So với bây giờ thì hồi đó tôi không cô đơn tí nào. Chẳng khác gì tự mình chạy ra bờ biển, thấm ướt đầu ngón chân, không để ý ánh mắt xung quanh mà hét lên: “tôi cô đơn quá đây!” Thật quá sức trẻ con!

Tôi không thể chịu đựng được sự cô đơn này.

Một điều gì đó không ngờ đến, bằng mọi giá, hẳn đang đợi tôi phía trước.

Vì vậy tôi lảo đảo đứng dậy và tiếp tục hành trình. ※

Không có ai hết.

Không nói chuyện với ai được hết.

Lần cuối nói chuyện với Ozu là lúc nào?

Tôi cứ đi qua những gian phòng bốn chiếu rưỡi hệt nhau, bắt đầu mất đi hy vọng. Tôi không thèm nói một mình, không thèm ca hát, không lau chùi thân thể, không thèm ăn bánh kẹp cá nữa.

Tôi chỉ bước ra một căn phòng bốn chiếu rưỡi y hệt như vậy.

Y hệt như vậy.

Y hệt như vậy.

Y hệt như vậy.

Những cảnh tượng giống nhau cứ lặp đi lặp lại.

Tôi chỉ còn sức thì thầm trong lồng ngực.

Mùa thu năm ngoái, lúc tôi trốn chui trốn nhủi ở phòng Higuchi Seitaro mà chơi thủy chiến, chuyện gì đã xảy ra?

Y như yêu quái, Ozu đã sắp đặt mọi thứ.

Đầu tiên, y thừa dịp phó ban “Tiệm in ấn” đi công tác ở Hokkaido, thực hiện quyền phó ban đóng cửa “Tiệm in ấn.” Ajima-senpai ném chuyện của tôi sang một bên, vội chạy về “Tiệm in ấn”

Ozu lộ bộ mặt gian thương đểu cáng mà nói với Ajima-senpai: “Tôi có vài điểm nghi vấn về sự điều hành Quán Ăn Mèo Hên, nên hy vọng anh tham dự hội nghị.” Ajima-senpai đồng ý, hoàn toàn không biết mưu đồ của Ozu.

Ozu khi giao tiếp với đám đàn anh, đã dần dần thu tóm quyền lực. Y rất quen thuộc với hội tôn giáo trá hình câu lạc bộ bóng chày Honwaka, lại bạn bè với thành viên trong hội đồng kỉ niệm thành lập trường. Ozu cũng có tay chân trong mọi tổ chức mờ ám trong trường. Dựa vào thế lực đó, Ozu thỏa thuận với họ sẽ cắt giảm ngân sách của “Tiệm in ấn” thường dành cho “Cảnh sát thư viện”, phần còn dư đưa cho các câu lạc bộ và đoàn thể xã hội. Y cũng tiến hành mua chuộc lôi kéo phe cánh trong nội bộ “Cảnh sát thư viện”. Những thành phần không lôi kéo được, thì y sai “Hội dọn xe vui vẻ” bao vây kiềm hãm họ trong nhà vào ngày họp. Mưu tính của y, thật vô cùng đáng sợ.

Ajima-senpai được mời ngay vào cái thiên la địa võng ấy.

Hội nghị đã kết thúc xong.

Ajima-senpai bị tố vì thù oán cá nhân vụ cướp người yêu mà thù hằn Jougasaki, sử dụng “Cảnh sát thư viện” vào việc riêng, nên bị nhất trí khai trừ. Ajima-senpai còn đang choáng váng không nói được câu nào, thì bị “Hội dọn xe vui vẻ” ném ra ngoài.

“Ozu, không phải anh làm thì không được.”

Đại biểu của hội bóng chày Honwaka tiến cử Ozu.

“Cái đó quá sức tôi rồi.”

Ozu làm bộ khiêm tốn từ chối. Về sau, y kiêm nhiệm cả phó ban “Tiện in ấn” lẫn trưởng ban “Cảnh sát thư viện.”


 

Chú thích:

[5] ↑ Urashima Taro: Truyện cổ tích một người đàn ông được mời xuống thủy cung chơi, khi quay trở lại thì hóa ra mấy trăm năm đã qua, rất giống Từ Thức lên tiên ở Việt Nam.